Kể chuyện món quê: Cá bống sông Trà kho tiêu

Lê Hồng Khánh - Thứ Sáu, 09/12/2022 , 06:10 (GMT+7)

Cá bống kho tiêu là thức ngon, riêng có của vùng sông nước Trà Khúc. Riêng vì con cá bống và cũng là riêng vì cách kho tiêu.

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu

(Ca dao Quảng Ngãi)

Cá bống sông Trà.

Trong các giống cá ngon sống ở vùng sông nước Trà Khúc (cá thài bai, cá đối,  cá hanh...), cá bống được xếp lên hàng đầu. Do điều kiện riêng về thủy thổ, con cá bống sông Trà Khúc vảy mịn, vi ngắn và mảnh, ít xương, nhiều thịt; thịt lại vừa chắc vừa thơm.

Cho dù con cá bống có từ sông Kỳ Cùng chảy ngược phương bắc, đến sông Trèm Trẹm đỏ ngầu ở tận phương nam, và xa nữa, vào trong cổ tích “bống bống bang bang”, cá bống kho tiêu vẫn là thức ngon, riêng có của vùng sông nước Trà Khúc. Riêng vì con cá bống và cũng là riêng vì cách kho tiêu.

Không phải con bống sông Trà nào cũng có thể kho tiêu để trở thành món ăn độc đáo của người Quảng Ngãi. Bống găm, nhỏ bằng ngón chân cái, lớn bằng con cá chuồn, hay sống trong hang hốc bờ sông, hợp với cách nướng than hồng rồi dầm nước mắm. Bống nhọn, hay bống kèn, nhỏ như mút đũa, đầu nhọn, mình rỗ hoa đậm nhạt, thịt dai, thường được chế biến bằng cách hấp cách thủy, khi ăn dùng bánh tráng mè mà “xúc”. Bống dừa đầu to, xương nhiều, kho tiêu chỉ là tàm tạm... Dùng kho tiêu hợp nhất là con bống cát. Loại này không to như bống găm, không nhỏ như bống nhọn, đầu nhỏ, mình mập mạp, vẩy mịn và có màu từ vàng nhạt ngả sang vàng pha.

Bắt cá bống trên sông Trà Khúc.

Mùa cá bống ngon nhất là từ sau tiết cốc vũ đến trước tiết hạ chí. Lúc này cá có chửa, bụng đầy trứng. Đây cũng là thời kỳ thường có mưa giông đầu nguồn Trường Sơn, dòng sông Trà Khúc đều nước, nhiều phiêu sinh vật, cá có cái ăn, mập nung núc. Nhưng chỉ có một đoạn sông Trà ở trung lưu, từ ngã ba sông Cùng (Tịnh Minh - Nghĩa Thắng) về đến đập dâng Trà Khúc (TP Quảng Ngãi), cá bống mới thật ngon. Đầu nguồn, nước sông chảy mạnh, ít phiêu sinh vật, cá gầy, thịt dai. Phía gần biển, nhiễm mặn, cá nhiều xương và mất vị riêng.

Có nhiều cách bắt cá, như bủa câu, thả chài, soi đèn; nhưng “thả ống” là cách tốt nhất. Ống là một đoạn tre khô đục thông mặt, dài ba gang tay. Một ghim tre, xuyên ngang, thẳng góc với dòng nước chảy, cách đáy sông từ ba đến bốn gang tay. Bên cạnh nơi đặt ống, người ta cắm một “cây vè” bằng tre hoặc bằng sậy, nhô lên mặt nước chừng 5 tấc đến 1m, để làm dấu khi trút ống (bắt cá) và ghe thuyền qua lại nhận biết, khỏi va chạm. Cá bống thích chui vào ống để tránh bớt dòng nước chảy, dựa thế mà kiếm mồi, đồng thời cũng lấy đó làm nơi trống mái gặp nhau “chim đá, cá trừng”.

Người thả ống bơi bộ, ngược dòng, để tránh khua động, đến gần thì lặn xuống, nhẹ nhàng đưa hai bàn tay bịt hai đầu ống rồi trồi lên mặt nước, lắc ống nhè nhẹ. Nếu có cá, cá chạm vào tay, thì cho đầu ống vào chiếc vịt nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Vịt là một dụng cụ đựng cá đan bằng tre, phần đáy ngập trong nước để giữ cho cá khỏi chết, được người trút ống dòng sợi dây qua bụng kéo trôi theo.

Mâm cơm với cá bống sông Trà Khúc kho tiêu.

Trút ống bắt cá là chuyện của đàn ông, con trai; kho cá, dĩ nhiên là chuyện của các bà, các chị.

Cá bống từ sông đem về, sau khi dùng một chiếc gai tre khều nhẹ phía “rốn” lấy đoạn ruột đen, các bà cho vào chiếc vịm bằng đất nung tráng men da lươn, rắc muối trắng, xóc đều tay để cá tan nhớt rãi. Rửa sạch cá một lần nữa rồi cho vào trách (dụng cụ kho cá bằng đất nung), thêm nước mắm xăm xắp, để chừng 20 phút cho cá “ngáp” mắm vào bụng. Khoảng thời gian này, dầu phụng đã được khử bằng củ nén, tiêu cũng đã giã mịn. Người sành sỏi dùng mắm Tổng Binh hoặc mắm Kỳ Tân - An Chuẩn, không dùng mắm Sa Huỳnh. Tiêu thì phải tiêu nguồn Quảng Nam - Quảng Ngãi, cay và thơm. Màu cũng thế, màu công nghiệp không được sử dụng. Các bà dùng màu từ dầu gấc hoặc đường mía thắng già. Màu này vừa đẹp, vừa có vị ngọt giữ lâu trên đầu lưỡi.

Muối và bột ngọt không có chỗ trong trách cá kho ngon. Muối làm chua con cá, bột ngọt “đảm” mất vị chân chất của tiêu. Lửa riu riu. Trách cá được kê lên ông táo. Tiêu và màu cho vào trước. Mười phút sau, dầu ăn lại được đưa vào. Mười lăm phút nữa, cá từ từ cong lại cho đến vừa “lưng tôm” thì hạ lửa, xóc đều. Cá vừa nguội, một lớp váng muối màu sẫm cũng dần dần hiện ra từ mõm đến vi đuôi.

Cá bống kho tiêu.

Nồi cơm thổi gạo tháng ba, độn ít khoai lang khô thái măng, đĩa cá bống kho tiêu và đĩa rau muống luộc (chấm nước cá kho) là bữa cơm đãi khách đầy trân trọng và tình nghĩa của người dân đôi bờ sông Trà. Mấy con cá bống kho đem vằm nát, lóc bỏ xương thành nguyên liệu, “chủ lực” cho một nồi canh rau muống thật ngọt. Cá bống kho tiêu với rau muống “xứng đôi vừa lứa” như bầu với tôm, măng le với nhộng tằm.

Đĩa “mồi” cá bống, một xị rượu đế, vài ba người bạn ngồi bên nhau chuyện vãn sau một ngày lăn lộn sông nước, ấy là cái thú của cánh đàn ông; nhưng rồi cơm trắng, trã cá bống kho tiêu và niêu nước chè đậm, thêm ít vỏ dền, lại là phần riêng của các bà khi phải “ăn cay uống đắng”. Chả thế, mà có chị nọ, con cái sòn sòn, đứa bò đứa ẵm, nhưng lại mang thêm quả bầu, khi bị chị em trêu chọc, chị nọ chống chế bằng cách “đổ vạ cho... cá bống”!

Phải đâu chàng nói mà xiêu

Tại con cá bống, tại niêu nước chè ...

Chao ôi, biết làm sao giải oan cho nước chè, có bống!...

Lê Hồng Khánh
Tin khác
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây

Những chiếc trống của làng trống Bình An đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ những nghệ nhân tài hoa, nhưng nơi đây đang mong mỏi lớp người kế nghiệp.

Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?
Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?

Cụ Kép Trà tài năng, đức độ, lại có chút ngạo nghễ, bất cần đời. Nhân một buổi bình Truyện Kiều, các quan lại cho rằng cụ mượn thơ mắng quan lại Triều Nguyễn

Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.