'Hưng Hóa kí lược' - Một cuốn toàn thư về đất và người Tây Bắc

Nguyên Phong - Thứ Tư, 04/12/2024 , 06:35 (GMT+7)

Nội dung của 'Hưng Hóa kí lược' có 12 đề mục, bao gồm đầy đủ nội dung truyền thống của một cuốn địa chí.

Bài thơ của Lê Thái Tổ cho khắc trên núi sông Bờ thuộc châu Lai (Lai Châu), nay đã được đưa về Đền thờ vua Lê Lợi tại xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Ảnh: Lí Học.

Phạm Thận Duật (1825 - 1885) “là một vị quan thanh liêm, một nhà chính trị vì nước vì dân, một nghĩa sĩ Cần Vương chống Pháp, một nhà thơ, nhà văn hóa đa diện”, ông làm nhiều chức vụ, từ giáo thụ, tri châu, tri phủ, Bang biện tỉnh vụ kiêm Đồn điền sứ, Án sát sứ, Bố chính sứ, quyền Tổng đốc và Phó tổng tài Quốc sử quán kiêm quản Quốc tử giám. “Hưng Hóa kí lược” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông. Tác phẩm như một cuốn bách khoa tri thức về vùng Tây Bắc thời bấy giờ.

"Hưng Hóa kí lược”, công trình biên khảo theo thể loại địa lý học - lịch sử về vùng đất Hưng Hóa đươc viết bằng chữ Hán (khoảng 42 nghìn chữ) vào năm Bính Thìn khi tác giả mới ngoài 30 tuổi, một năm sau khi ông nhậm chức Tri châu Tuần Giáo. Ngày nay tác phẩm "Hưng Hóa kí lược” đã được Ngô Thế Long dịch, in trong cuốn “Phạm Thận Duật - Cuộc đời và tác phẩm”, NXB KHXH, HN. 1989, tái bản trong cuốn “Phạm Thận Duật toàn tập”, NXB Văn hóa Thông tin năm 2000.

Theo thống kê của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Ân, trong kho sách địa phương chí nói chung ở nước ta, sách địa phương chí xuất hiện ngày càng nhiều, ví dụ: "Ô Châu cận lục" của Dương Văn An, "Phủ biên tạp lục" của Lê Qúy Đôn; "Hải Dương chí lược" của Ngô Thì Nhậm; "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức, "Cao Bằng thực lục" của Nguyễn Hữu Cung, "Hưng Hóa xứ phong thổ lục" của Hoàng Bình Chính, "Hưng Hóa kí lược" của Phạm Thận Duật, "Bắc thành địa dư chí lục" của Lê Chất, Nghệ An kí của Bùi Dương lịch, "Tuyên Quang phong thổ chí" của Nguyễn Văn Bân, "Thiện Đình xã chí tập" của Đặng Xuân Viện... Và còn một số cuốn sách địa dư khác mà Nguyễn Quang Ân chưa kể đến như: "Bắc Giang địa chí", "Hưng Yên địa chí" của Trịnh Như Tấu; "Địa dư huyện Cẩm Giàng", "Địa dư huyện Quỳnh Côi", "Địa dư huyện Bình Lục" của Ngô Vi Liễn hay "Thái Bình phong vật chí" của Phạm Văn Thụ… Trong nhiều tác phẩm kể trên, tác giả thường là những người làm quan tại địa phương đó và trong quá trình đó đã nghiên cứu, khảo cứu và điền dã rồi làm nên những cuốn sách địa phương chí về vùng đó.

Phạm Thận Duật cũng là một trong những quan lại đó. Năm 1856, khi Phạm Thận Duật làm Tri châu Tuần Giáo được 2 năm, vào độ tuổi đang sung mãn (ngoài 30 tuổi) ông đã viết Hưng Hóa kí lược. Ông đã đã khảo cứu, ghi chép trên một diện tích khá rộng, gọi là vùng Hưng Hóa nhưng theo nhận xét của PGS. TS Bùi Xuân Đính trong bài “Phong tục tập quán các dân tộc ít người qua “Hưng Hóa kí lược” thì: “Dưới triều Nguyễn, qua thống kê của Phạm Thận Duật, Hưng Hóa gồm 4 phủ: Gia Hưng, Quy Hóa, Tây An, Điện Biên với 15 châu, 6 huyện (không kể các châu, huyện kiêm lí), 40 tổng, 223 xã, sách, động, 7920 suất đinh. So với ngày nay, Hưng Hóa dưới triều Nguyễn tương ứng với toàn bộ các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, và một phần các tỉnh Hòa Bình, Lào Cai, Tuyên Quang…). Đây là vùng các dân tộc ít người sinh sống từ lâu đời. Phạm Thận Duật đã thống kê có tới hơn 30 dân tộc, trong đó có 4 dân tộc là “dân ngụ cư”: Mán, Thanh, Nùng và người Minh Hương). Điều đó có nghĩa là, sách “Hưng Hóa kí lược” có nội dung phản ánh bao trùm trên một diện tích khá rộng gồm nhiều tỉnh thuộc vùng Tây Bắc ngày nay.

Nội dung của sách "Hưng Hóa kí lược" gồm 12 mục: Duyên cách (sự thay đổi địa giới), Cương vực, Dinh điền ngạch thuế, Núi sông, Chùa chiền, Thành trì, Cổ tích, Khí hậu, Thổ sản, Phong tục tập quán, Thổ tự (chữ của người Thái) và Thổ ngữ (từ ngữ của người Thái).

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền: “Nội dung của "Hưng Hóa kí lược" có 12 đề mục bao gồm đầy đủ nội dung truyền thống của một cuốn địa chí. Song với năng khiếu sử học sẵn có, Phạm Thận Duật thường đi sâu vào những đề mục, mũi nhọn và đã để lại cho chúng ta những trang khảo cứu khá công phu. Cũng cần nói thêm, "Hưng Hóa kí lược" của ông không những có dung lượng số liệu đa dạng mà còn có sự giàu có về chi tiết. Chắc rằng, những ưu điểm này sẽ nâng tập sách lên thành đối tượng khai thác của nhiều ngành khoa học.

Đọc "Hưng Hóa kí lược", bạn đọc ngày nay hiểu được những sự thay đổi địa giới của Hưng Hóa qua các đời, thấy địa giới của từng tỉnh, huyện, từng châu với những tên quen thuộc như ở mục Duyên cách, không những trình bày sự thay đổi địa giới của cả tỉnh qua các đời mà còn cho biết lịch sử duyên cách lúc tách hợp cùng sự thay đổi tên gọi của các phủ, huyện, châu. Ở mục này có các mục phụ là: Châu Mai, châu Yên, Mai Sơn, châu Thuận, Quỳnh Nhai, châu Luân, Tuần Giáo, châu Lai, châu Văn Bàn… Hay ở mục Núi sông nói về các con sông: Sông Mã, sông Đà, sông Thao và những ngọn núi ở Thanh Sơn, Thanh Thủy, Phù Yên…

Khuôn viên Đền thờ vua Lê Lợi tại xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Về phương diện học thuật, nét đặc sắc nổi bật của "Hưng Hóa ký lược" là ở phương pháp biên soạn khoa học, bài bản của tác giả.

Đặc biệt, trong mục “Cổ tích”, Phạm Thận Duật dành nhiều trang viết về lịch sử bia và bài văn bia của Lê Lợi ở cạnh sông Bờ thuộc châu Lai (tức Lai Châu ngày nay), nói về việc đánh Xa Khả Sâm năm Thuận Thiên 5 (1432) và bài thơ bình Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ. Theo đó, ông đã dựa vào sách của Viện hàn lâm soạn vào năm Tự Đức thứ 4, ghi lại nguyên văn bài thơ của Lê Thái Tổ cho khắc trên núi sông Bờ thuộc châu Lai với tinh thấn “Thảo mộc kinh phong hạc/Sơn xuyên nhập bản đồ”, nghĩa là “Cỏ cây cũng làm quân giặc kinh sợ / Núi sông (của ta) thu vào bản đồ” và bài thơ vua Lê cho khắc ở châu Đà Bắc bến Vạn Bờ (thuộc Hòa Bình ngày nay) với câu nói nổi tiếng “Biên phòng hảo vị trù phương lược / Xã tắc ưng tu kế cửu an”, nghĩa là “Phòng ngừa bờ cõi cần ra sức / giữ vững cơ đồ phải gắng công”.

Hoặc, xem "Hưng Hóa kí lược", bạn đọc có thể thấy những thổ sản của vùng này được tác giả ghi chép rất cẩn thận, chi tiết mà ngày nay đã trở thành đặc sản của vùng như: Trám, củ nâu, ong, ngựa, trứng kiến, cánh kiến đỏ, sơn, dụ, sắn, dó, cây tên độc… PGS.TS Phan Văn Các trong bài “Hưng Hóa kí lược - cuốn địa phương chí đặc sắc của Phạm Thận Duật” nhận xét: “Về phương diện học thuật, nét đặc sắc nổi bật của "Hưng Hóa ký lược" là ở phương pháp biên soạn khoa học, bài bản của tác giả, có thể thấy một phần ở Lời tựa của chính tác giả viết ở đầu sách. Đó chính là điều mà trong phương pháp luận khoa học ngày nay ta gọi là nắm vững lịch sử vấn đề, kế thừa thành tựu của người đi trước. Ông đã tham khảo, trích dẫn trên bốn mươi tài liệu thư tịch của các tác giả trong nước và tác giả Trung Hoa”.

Phạm Thận Duật cũng như nhiều quan lại có tài, có đức khác trong các triều đại phong kiến Việt Nam là đi làm quan và tích cực nghiên cứu, sưu tầm, khảo cứu, điền dã để viết ra những cuốn sách “địa phương chí” có giá trị cho hậu thế. Làm tròn việc quan, việc triều đình đã khó, nhưng còn làm được những cuốn sách cho địa phương nơi làm quan còn khó hơn. Đó là việc mà không phải ai cũng làm được, đặc biệt như trong thời điểm hiện nay.

 Lời tựa cuốn "Hưng Hóa kí lược"

Tiên Nho xưa nói rằng: “Miệng muốn nói, hãy nói bằng miệng của người xưa. Tay muốn viết, hãy viết bằng tay của người xưa”. Có lẽ vì cái mà người xưa nói đã rất đầy đủ rồi, người sau không nên nói thêm nữa.

Duật tôi năm trước vâng mệnh nhậm chức ở châu Tuần Giáo, Hưng Hóa. Hỏi biết rằng quan Đốc đồng họ Hoàng (tức Hoàng Bình Chính, 1736 - 1785, đỗ tiến sĩ năm 1775 đời Lê Cảnh Hưng, làm Đốc đồng nhung cụ ở Hưng Hóa, soạn sách "Hưng Hóa phong thổ kí") đời Lê và quan Hiệp trấn họ Trần, quan Phủ viện họ Ngụy của triều ta (Nguyễn), đều có viết sách Hưng Hóa. Tôi tìm mua mãi mà không được. May thay, tôi được một quyển sách chép về các tỉnh của Viện hàn lâm, viết vào năm Tự Đức thứ 4 (1851), rồi lại được một bộ Hưng Hóa lục của Hiệp trấn Trần. Tôi bèn trân trọng cất trên giá sách, thường thường đem ra suy xét. Như người say bừng tỉnh, như người mơ thức dậy, tôi chợt hiểu ra, cái gọi là “miệng người xưa, tay người xưa” chẳng ở đấy sao? Lần lượt xem hết bộ sách của họ Trần thì biết được sổ sách về ngạch bậc đinh, điền. Ngoài ra đều chép sơ sài qua loa. Cũng là gốc ở sách chép về các tỉnh của Viện Hàn lâm, không sai dị nhiều. Tuy nhiên, đất biên cương xa xôi, người Kinh, người miền núi ở lẫn, núi cách sông sâu, chân không đến được thì những chỗ đáng ngờ há lại ít sao?

Duật tôi không tự run sợ xấu hổ, lấy hai tập làm gốc, căn cứ vào sách vở cùng truyện kí của các nhà, lại góp nhặt các chuyện thường đàm trong thôn xóm, chép ra 12 mục, đặt tên là "Hưng Hóa kí lược". Thỉnh thoảng cũng lấy ý riêng mà bàn góp vào một đôi chỗ, nhưng không dám tự coi mình là đúng. Hãy cứ thuật lại những điều mình biết, để đợi sự chỉ giáo của người quân tử.

(Ngô Thế Long dịch)

Nguyên Phong
Tin khác
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây

Những chiếc trống của làng trống Bình An đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ những nghệ nhân tài hoa, nhưng nơi đây đang mong mỏi lớp người kế nghiệp.

Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?
Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?

Cụ Kép Trà tài năng, đức độ, lại có chút ngạo nghễ, bất cần đời. Nhân một buổi bình Truyện Kiều, các quan lại cho rằng cụ mượn thơ mắng quan lại Triều Nguyễn

Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.