Cụ Huỳnh và Quảng Ngãi

. - Chủ Nhật, 02/10/2022 , 06:26 (GMT+7)

Huỳnh Thúc Kháng (1876 –1947) người làng Thạnh Bình, nay thuộc huyện Tiên Phước tỉnh Quảng Nam, là chí sĩ cách mạng, nhà báo, nhà khảo cứu nổi tiếng nửa đầu thế kỷ XX.

Mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng trên đỉnh núi Thiên Ấn (Quảng Ngãi).

Sau cách mạng tháng 8/1945, cụ Huỳnh giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt), Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp (1946).

Đầu năm 1947, cụ Huỳnh công cán tại Quảng Ngãi trong vai trò Đặc phái viên Chính phủ tại Liên khu V và qua đời vì trọng bệnh ngày 21/4/1947, tại thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành; thi hài an táng trên đỉnh núi Thiên Ấn – đệ nhất thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi.

Sinh trưởng ở vùng đất bán sơn địa nghèo khó, trong một gia đình nông dân, nhưng bằng nghị lực đáng kính phục, Huỳnh Thúc Kháng đã thi đỗ Giải Nguyên kỳ thi Hương năm Canh Tý (1900) và 4 năm sau, 1904 (Giáp Thìn), đỗ tiến sĩ, nổi tiếng về học vấn và kiến văn bậc nhất Trung Kỳ. Vì vậy, tên tuổi Mính viên (tên tự Huỳnh Thúc Kháng) hẳn không phải xa lạ trong giới theo đòi nghiên bút ở vùng đất Quảng Ngãi, cận kề phía Nam.

Tuy nhiên, phải đến chuyến Nam du năm 1905 cùng Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp (đồng khoa, đồng hương Quảng Nam), để cổ vũ cho phong trào Duy Tân, đến Bình Định mượn danh sĩ tử làm bài phú “Danh sơn lương ngọc”, nhạo báng lối học từ chương, chê bai con đường công danh khoa cử, kêu gọi ái quốc, duy tân, “gây một tiếng sét đánh vang lường trong cả nước” (chữ dùng của Phan Chu Trinh) thì Huỳnh Thúc Kháng mới thực sự trở thành một trong những người dẫn đường về tư tưởng của sĩ phu và nho sĩ tiến bộ miền Trung, trong đó có Quảng Ngãi, lúc bấy giờ. Cũng từ những năm này, Huỳnh Thúc Kháng đã nhận thức sâu sắc truyền thống gan dạ, kiên cường bậc nhất miền Trung cũng như mối thâm giao, đồng nhịp của sĩ phu Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh) và Nam Ngãi (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Trong bài khảo luận lịch sử “Vụ kháng thuế ở Trung Kỳ năm 1908” cụ viết: “Nghệ Tĩnh và Nam Ngãi, từ phái văn học đến phái Cần vương nghĩa hội, thường một mạch câu thông với nhau, đến phong trào tân học cải cách cùng Đông học, cán dùi trống một nhịp với nhau…”.

Xuất phát từ sự đánh giá sâu sắc như vậy mà trong vai trò là yếu nhân và đồng khởi xướng phong trào Duy Tân, Huỳnh Thúc Kháng đã có sự chú ý đúng mức đến việc vận động sĩ phu và nhân dân Quảng Ngãi, đồng thời theo dõi sát sao những chuyển động của các phong trào Duy Tân – yêu nước ở vùng đất này.

Thuật lại Phong trào kháng thuế - cự sưu năm 1908, cụ đã đưa ra một nhận định chính xác về tính cách của người Quảng Ngãi, cho đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa: “Sĩ phu cùng dân Quảng Ngãi khẳng khái và kiên quyết, phần đông hy sinh vì nước, một mực thẳng tới không thối lui trước một trở lực nào”.

Huỳnh Thúc Kháng đã giành nhiều lời trân trọng và cảm phục đối với các nhà yêu nước người Quảng Ngãi như Nguyễn Sụy, Nguyễn Đình Quản, Lê Đình Cẩn, Nguyễn Bá Loan, Lê Khiết, Phạm Cao Chẩm, Lê Cơ, Lam Trung, Nguyễn Tuyên, Trần Kỳ Phong, Phạm Cao Đài…

Trong thời gian bị đày ở Côn Đảo (1908 – 1921), tiến sĩ  Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành người bạn học ở “Trường học thiên nhiên” (chữ dùng của Huỳnh Thúc Kháng) với nhiều nho sĩ Quảng Ngãi, và vì vậy, trong nhiều tác phẩm viết sau này, cụ Huỳnh đã cung cấp cho hậu thế những thông tin quý giá về thơ văn, hành trạng và đặc biệt là nhiều hành động thể hiện khí phách lẫm liệt của các nhà yêu nước Quảng Ngãi.

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Nghĩa Hành (Quảng Ngãi).

Đề cập đến vụ âm mưu khởi nghĩa năm 1916 (vụ mưu khởi Duy Tân), Huỳnh Thúc Kháng cũng cho biết: Sĩ phu cùng binh lính và nhân dân 2 tỉnh Quảng Ngãi là những người “chủ động”; cử nhân Nguyễn Sụy (Nguyễn Thụy), người làng Hổ Tiếu, huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), đã từng được vua Duy Tân tiếp kiến, bàn bạc về “công việc tấn hành” và ban mật dụ khởi nghĩa. Cảm phục gương hy sinh vì nước của Cử Sụy, Tú Ngung (Lê Ngung) Tú Chẫm (Phạm Cao Chẫm), cụ Huỳnh đã làm bài thơ “Khốc Cử Sụy, Tú Ngung, Tú Chẩm” nguyên văn chữ Hán:

Phong lôi trập phục đại tinh trầm

Hà khiếu sơn đề hổ báo câm

Nhất phó bầu lô mãn xoang huyết

Niên niên Lũy tấn nộ triều âm.

Và cụ tự dịch ra quốc ngữ:

Sao lặng, dông mây cũng vắng tăm

Núi hò, biển hẹn, cọp beo câm

Một thớt đầu lô bầu máu nóng

Ngọn triều bến Lũy dậy quanh năm.

Là người nổi tiếng hay chữ từ khi còn rất trẻ, và Quảng Nam quê cụ cũng được mệnh danh là đất học với câu xưng tụng “Ngũ phụng tề phi” (Năm người cùng đỗ đại khoa trong một kỳ thi), nhưng đọc câu đối Huỳnh Thúc Kháng viếng tiến sĩ Tạ Tương (người làng Chánh Lộ, thành phố Quảng Ngãi, đỗ tiến sĩ năm Nhâm Thìn 1892, mất năm 1942) mới biết cụ trọng thị giới Nho học đất Cẩm Thành nhường nào:

“Cẩm Thành giai khí chung vy Thiên Bút cao sơn; đông lãnh thương tòng thôi độc tú;

Quỳnh uyển danh hoa giá trọng Nhâm Thìn tuế bảng; thu dung hoàng cúc điểm quần phương”.

(Khí tốt đất Cẩm Thành hun đúc nên núi Thiên Bút cao, mùa đông có cây tùng xanh đơn độc;

Tiệc trọng ở vườn Quỳnh Uyển mùa thu năm Nhâm Thìn, cây hoàng cúc còn lưu lại để tỏa mùi hương cuối cùng).

Thời gian công cán ở Quảng Ngãi dù tuổi cao sức yếu nhưng cụ Huỳnh đã gắng sức đi lại, thăm viếng chiến sĩ, đồng bào, kêu gọi mọi người đoàn kết, đồng lòng đi theo cụ Hồ Chí Minh, ra sức phấn đấu vì sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Bức thư gởi đồng bào, phụ lão toàn quốc kháng chiến (Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến thư) do cụ Huỳnh viết năm 1946 và tự dịch ra quốc ngữ được lưu hành rộng rãi ở Quảng Ngãi thời gian này.

Và thật cảm động, cho đến nay, nhiều bậc cao niên ở Quảng Ngãi vẫn còn thuộc nằm lòng nguyên tác Hán văn bức thư giàu lòng ái quốc của một nhà chí sĩ từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giành những lời cảm phục: “… cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, ý chí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội đày ra Côn Đảo, mười mấy năm trường gian khổ. Nhưng lòng son, dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ chẳng những không sờn mà lại thêm kiên quyết.

Cụ Huỳnh là một người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.

Cả đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời cụ chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập…” (Hồ Chí Minh – Thơ gởi nhân dân báo tín lễ quốc tang Huỳnh Thúc Kháng).

Ghi chú: Phần trích thơ văn cụ Huỳnh chúng tôi dẫn theo Nguyễn Q.Thắng “Huỳnh Thúc Kháng tác phẩm” – NXB TP Hồ Chí Minh -  1992.

Lê Hồng Khánh

Chuyên mục Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt của báo Nông nghiệp Việt Nam đặt theo tên một cuốn sách của Giáo sư Cao Xuân Hạo, nhà ngữ học và là một trí thức tinh hoa của đất nước.

Tên chuyên mục cũng nói hộ sự kỳ vọng kiến tạo và chấn hưng những giá trị đang bị xô lệch bởi cơn bão thời đại vốn lẫn nhiều gió độc. Ở đây, các nhà nghiên cứu và người Việt nói chung quan tâm đến văn hóa dân tộc sẽ góp tiếng nói sâu sắc, chính trực trong một khát vọng chung nhằm góp phần xây dựng những nền tảng quan yếu cho một xã hội tốt đẹp trong hiện tại và cho tương lai.

Rất mong nhận được sự ủng hộ, chia sẻ và cộng tác của những bậc thức giả cùng bạn đọc yêu mến!

Bài viết cho chuyên mục xin được gửi về Báo Nông nghiệp Việt Nam, 14 Ngô Quyền, Hà Nội. Email: baonnvnts@gmail.com.

Hoặc liên hệ người phụ trách chuyên mục: Ông Tô Đức Huy, Trưởng ban Thư ký Tòa soạn; Điện thoại: 0913.378.918; Email: toduchuy75@gmail.com.

NNVN

.
Tin khác
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây

Những chiếc trống của làng trống Bình An đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ những nghệ nhân tài hoa, nhưng nơi đây đang mong mỏi lớp người kế nghiệp.

Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?
Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?

Cụ Kép Trà tài năng, đức độ, lại có chút ngạo nghễ, bất cần đời. Nhân một buổi bình Truyện Kiều, các quan lại cho rằng cụ mượn thơ mắng quan lại Triều Nguyễn

Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.