Rất đông đại biểu, phóng viên các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương tham dự tại đầu cầu trực tiếp của Diễn đàn, sáng 13/12.
Chuối hiện là cây ăn trái chủ lực và cũng nằm trong nhóm trái cây xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam. Thị trường thế giới dành cho chuối Việt Nam đang rộng mở, tạo kỳ vọng lớn cho ngành hàng này.
Với nhu cầu tăng mạnh trên toàn cầu và tiềm năng sản xuất dồi dào trong nước, nhiều chuyên gia nhận định giá trị xuất khẩu chuối của Việt Nam hoàn toàn có thể chạm mốc 1 tỷ USD trong tương lai gần.
Tuy nhiên, sự phát triển của ngành chuối vẫn đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là bệnh héo vàng - bệnh Panama.
Tổng thuật: Diễn đàn "Giải pháp phòng trừ bệnh héo vàng hại chuối"
Đây là căn bệnh do nấm Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Foc) gây ra, có khả năng kháng rất cao với các loại thuốc trừ nấm thông thường, khiến biện pháp phòng trừ còn kém hiệu quả, chủ yếu tập trung vào vệ sinh và khử trùng dịch tễ để hạn chế lây lan.
Diễn đàn nhằm tìm ra giải pháp phòng trừ bệnh héo vàng cho cây chuối. Ảnh: TH.
Nhằm tìm kiếm giải pháp và chia sẻ kinh nghiệm trong kiểm soát bệnh héo vàng Panama, ngày 13/12 tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp cùng Báo Nông nghiệp và Môi trường và Viện Nghiên cứu Rau quả tổ chức diễn đàn nhằm mục tiêu tìm giải pháp phòng trừ bệnh héo vàng Panama cho cây chuối.
12h00
Kiến nghị đưa cây chuối ra khỏi danh mục cây trồng chính
Theo ông Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, Diễn đàn được tổ chức đúng thời điểm và trúng vấn đề. Đặc biệt, phần thảo luận của các địa phương cho thấy nhu cầu thực tiễn là rất lớn.
Ông Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, phát biểu kết thúc Diễn đàn.
Ông Lê Quốc Doanh nhấn mạnh, chuối đã được xác định là cây trồng chủ lực và trên thực tế đang giữ vai trò ngày càng quan trọng. Hiếm có loại cây ăn quả nào trong vòng vài năm lại có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh như chuối, trong khi nhu cầu thị trường vẫn còn rất lớn.
Tuy nhiên, bệnh héo vàng chuối nay đã hiện hữu, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề. Với Việt Nam, dù đã có những kinh nghiệm nhất định nhưng câu chuyện đặt ra hiện nay là phải hành động kịp thời.
Theo ông Doanh, vấn đề lớn nhất hiện nay không nằm ở chỗ thiếu nghiên cứu hay thiếu giải pháp kỹ thuật. Trên thực tế, các doanh nghiệp, nhà khoa học và chuyên gia đã bàn rất sâu, rất nhiều khía cạnh khác nhau. Điểm còn thiếu căn bản chính là một quy trình phòng trừ bệnh héo vàng chuối được ban hành chính thức.
Những giải pháp hiện có mới dừng ở mức đề xuất, kinh nghiệm riêng lẻ, chưa được tập hợp thành một quy trình thống nhất và chưa có cơ quan quản lý nhà nước ký ban hành để phổ biến rộng rãi cho địa phương, doanh nghiệp và người dân áp dụng.
Từ kinh nghiệm thực tiễn trong tái canh cà phê ở Tây Nguyên, ông Doanh chia sẻ rằng để giải quyết được bài toán dịch bệnh phức tạp, bắt buộc phải có sự tích tụ từ nghiên cứu khoa học của các viện, trường, kết hợp với chỉ đạo mạnh mẽ của Nhà nước.
Trước đây, khi cà phê tái canh bị chết hàng loạt do bệnh rễ, Bộ NN-PTNT đã đặt hàng các đề tài nghiên cứu quy mô lớn, thí điểm trực tiếp tại địa bàn, từ đó xây dựng quy trình tạm thời, hướng dẫn ngay cho người dân áp dụng, rồi tiếp tục thử nghiệm, hoàn thiện dần. Có quy trình, có hướng dẫn thì người dân và doanh nghiệp mới biết dựa vào đâu để làm.
Về giống chuối, ông Doanh nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của giống sạch bệnh, giống kháng bệnh. Thực tế đã cho thấy hiệu quả rõ ràng tuy nhiên, công tác quản lý giống hiện vẫn còn lỏng lẻo, chưa có quy trình và cơ chế quản lý thống nhất, dẫn đến nguy cơ giống trôi nổi, mạo danh, gây rủi ro cho sản xuất.
Từ đó, ông Lê Quốc Doanh đề nghị cần sớm báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường để có chỉ đạo kịp thời, trước hết là đưa cây chuối ra khỏi danh mục cây trồng chính. Nếu không tháo gỡ sớm các vướng mắc về khảo nghiệm, công nhận giống và ban hành quy trình phòng trừ bệnh sẽ dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp và người trồng chuối.
Ông Doanh khẳng định, vấn đề bệnh héo vàng chuối đã được cảnh báo và nghiên cứu hơn 10 năm qua nhưng tiến độ xử lý vẫn còn chậm. Theo ông, đây là thời điểm không thể chần chừ thêm mà cần sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan quản lý cùng với việc huy động tri thức của các nhà khoa học và kinh nghiệm thực tiễn từ doanh nghiệp để sớm hình thành quy trình chính thức, làm cơ sở cho sản xuất chuối bền vững.
11h45
Gấp rút sửa Thông tư 17 theo hướng thông thoáng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang sửa đổi Thông tư 17/2019/TT-BNNPTNT theo hướng điều chỉnh lại nhóm cây trồng chính, nhằm mở rộng cơ chế tự công bố lưu hành giống đối với một số cây trồng có giá trị kinh tế cao. Mục tiêu là rút ngắn thời gian đưa giống mới vào sản xuất, tạo dư địa cho thị trường và tăng lợi ích trực tiếp cho nông dân.
Thông tin được ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, chia sẻ khi trao đổi về định hướng hoàn thiện chính sách quản lý giống cây trồng trong bối cảnh cơ cấu ngành hàng đang thay đổi nhanh.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, chia sẻ về định hướng hoàn thiện chính sách quản lý giống cây trồng tại Diễn đàn.
Theo ông, việc sửa Thông tư 17 không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật pháp lý, mà nhằm giải quyết một điểm nghẽn đã bộc lộ trong thực tiễn sản xuất.Thông tư 17 hiện hành quy định tiêu chí và danh mục cây trồng chính, qua đó xác lập cơ chế quản lý chặt chẽ hơn đối với giống của các cây này, bao gồm khảo nghiệm, công nhận và cấp phép lưu hành.
Cách tiếp cận này giúp bảo đảm chất lượng giống đối với những cây trồng có tác động lớn đến an ninh lương thực, sinh kế và thị trường. Tuy nhiên, trong điều kiện nhiều ngành hàng mới nổi lên nhanh, đặc biệt ở nhóm cây ăn quả, rau màu và cây đặc sản địa phương, cơ chế này đang làm chậm quá trình thương mại hóa giống.
Ông Mạnh cho rằng, sửa Thông tư 17 là để phân loại lại cho phù hợp hơn, qua đó cho phép một số cây không nhất thiết phải quản lý theo cơ chế của cây trồng chính, tạo điều kiện cho giống được tự công bố lưu hành.
“Mục tiêu cuối cùng là giống tốt phải sớm đến được với người sản xuất, tạo ra giá trị kinh tế thực, chứ không bị mắc kẹt quá lâu ở khâu thủ tục”, ông nhấn mạnh và hy vọng người trồng trọt sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận sớm hơn các giống mới có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu tốt, qua đó nâng hiệu quả sản xuất và thu nhập.
11h25
Tiếp cận đồng bộ từ giống đến đất đai để kiểm soát bệnh Panama
Theo TS. Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Viện Cây ăn quả miền Nam, việc sử dụng giống chuối có khả năng chống chịu tốt là yếu tố tiên quyết trong kiểm soát bệnh Panama, sau đó mới có thể kết hợp hiệu quả các biện pháp khác để quản lý bệnh bền vững.
TS. Trần Thị Mỹ Hạnh, Trưởng Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Viện Cây ăn quả miền Nam.
Trong canh tác, bà khuyến nghị nông dân giảm lượng phân đạm, đồng thời tăng cường kali, canxi và bổ sung dinh dưỡng cân đối nhằm nâng cao sức khỏe cây trồng. “Khi cây sinh trưởng tốt, mức độ nhiễm bệnh thường sẽ giảm đáng kể”, bà nhấn mạnh.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy bệnh Panama hiện diễn biến rất nhanh và phức tạp. Nếu trước đây bệnh thường chỉ xuất hiện khi cây chuối đã phát triển lớn thì nay, trong nhiều trường hợp, cây vừa trồng đã biểu hiện triệu chứng. Điều này cho thấy nguy cơ lây lan ngày càng gia tăng và khó kiểm soát hơn.
Trong khi đó, việc chỉ sử dụng một giống trong thời gian dài cũng tiềm ẩn nguy cơ suy giảm dần tính chống chịu theo thời gian. “Viện đang tiếp tục nghiên cứu và chọn tạo thêm nhiều giống mới, đồng thời tôi cho rằng nên chọn giống phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau, nhằm tăng tính bền vững trong sản xuất”, bà cho biết.
Do nấm gây bệnh Panama chủ yếu lây lan theo dòng nước, nông dân cần đặc biệt chú trọng hệ thống thoát nước trên vườn trồng, đồng thời nâng pH đất lên mức khoảng 6-7 để hạn chế sự phát triển của nấm trong môi trường đất chua. Việc sử dụng Trico (Trichoderma) cũng được khuyến khích để cải thiện pH và khử trùng đất; tùy điều kiện cụ thể, có thể sử dụng khoảng 1-3 tấn/ha nhằm giảm mật độ nấm trên bề mặt. Song song đó, tăng cường chất hữu cơ và xây dựng hệ vi sinh vật có lợi trong đất là giải pháp quan trọng giúp cải thiện sức khỏe đất lâu dài.
“Về biện pháp sinh học, không phải mọi chế phẩm đều mang lại hiệu quả như nhau. Trên thực tế, nhiều trường hợp sử dụng nấm đối kháng Trichoderma nhưng không đạt kết quả do chủng sử dụng không đủ mạnh hoặc không có khả năng đối kháng với nấm Fusarium gây bệnh Panama.
Hiện nay, chúng tôi đang sở hữu một số dòng Trichoderma tiềm năng, cho thấy khả năng đối kháng rất tốt trong điều kiện phòng thí nghiệm chỉ sau vài ngày. Tuy nhiên, việc áp dụng ngoài đồng ruộng vẫn cần tiếp tục được thử nghiệm và đánh giá lặp lại. Các kết quả bước đầu là rất khả quan, cho thấy việc phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp, từ giống, dinh dưỡng, đất đai, thoát nước đến biện pháp sinh học, sẽ mang lại hiệu quả cao nhất trong quản lý bệnh Panama trên chuối”, TS. Hạnh cho biết.
Trico (viết tắt của Trichoderma) là một nhóm nấm đối kháng có lợi, được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp như một chế phẩm sinh học. Trichoderma có khả năng đối kháng mạnh với nấm Fusarium gây bệnh héo rũ Panama, giúp bảo vệ bộ rễ và tăng sức đề kháng cho chuối. Đồng thời, cải thiện đất trồng thông qua phân hủy chất hữu cơ, giải phóng dinh dưỡng và tạo môi trường đất tơi xốp, giàu vi sinh vật có lợi.
11h05
Giống là giải pháp cuối trong kiểm soát bệnh Panama
Nấm Fusarium gây bệnh héo vàng Panama chủng TR4 có thể tồn tại trong đất hàng chục năm. Khi đã xâm nhập, rất khó loại bỏ hoàn toàn. Theo TS Trần Ngọc Hùng, đây là điểm mấu chốt khiến việc phòng, chống bệnh không thể dựa vào một giải pháp đơn lẻ, càng không thể vội vàng đặt kỳ vọng vào giống mới.
Ngay cả khi buộc phải chuyển sang giống có khả năng chống chịu, các biện pháp nông học vẫn phải được triển khai song song. Ảnh minh họa.
TR4 được đánh giá là chủng nấm nguy hiểm nhất trên cây chuối hiện nay. Nấm lây lan qua đất, nước tưới, tàn dư cây trồng và cả dụng cụ canh tác. Một khi đất đã nhiễm, khả năng tái phát rất cao, kể cả sau nhiều năm không trồng chuối. Thực tế này buộc người sản xuất phải tiếp cận theo hướng quản lý rủi ro, phân loại tình trạng vườn và lựa chọn biện pháp phù hợp, thay vì xử lý theo phong trào.
Theo TS Trần Ngọc Hùng, trước hết cần chia rõ thành các nhóm, vùng chưa xuất hiện bệnh, vùng đã nhiễm và vùng nhiễm nặng. Với những diện tích chưa có bệnh, trọng tâm là phòng ngừa. Điều này bao gồm kiểm soát chặt nguồn giống, hạn chế đưa đất lạ vào vườn, quản lý nước tưới và vệ sinh đồng ruộng. Đây là giai đoạn chi phí phòng trừ thấp nhất nhưng hiệu quả cao nhất, bởi khi nấm chưa hiện diện, các biện pháp canh tác có thể phát huy tác dụng rõ rệt.
Ở những vườn đã xuất hiện bệnh rải rác, mục tiêu chuyển sang khoanh vùng và làm chậm quá trình lây lan. Việc nhổ bỏ cây bệnh, xử lý tàn dư thực vật, cải tạo đất và điều chỉnh chế độ canh tác trở nên quan trọng. TS Hùng cho rằng nếu kiểm soát tốt ở giai đoạn này, người trồng vẫn có thể duy trì sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định mà chưa cần thay đổi giống.
Chỉ khi vườn bị nhiễm nặng, bệnh tái phát liên tục, các biện pháp canh tác không còn hiệu quả, việc sử dụng giống chống chịu mới được đặt ra. “Dùng giống là giải pháp cuối cùng, không phải lựa chọn đầu tiên”, TS Trần Ngọc Hùng nhấn mạnh. Nguyên nhân là các giống chống chịu hiện nay thường tồn tại những hạn chế nhất định, từ hình thái quả, mẫu mã đến thời gian sinh trưởng và khả năng thích nghi với điều kiện canh tác địa phương.
Theo ông, giống chống chịu có thể giúp giảm tỷ lệ cây bị bệnh, nhưng không đồng nghĩa với việc loại bỏ hoàn toàn Fusarium TR4 trong đất. Nếu lạm dụng giống mà bỏ qua các biện pháp quản lý đất và canh tác, nguy cơ bùng phát bệnh vẫn hiện hữu. Trong nhiều trường hợp, giống mới cho năng suất hoặc chất lượng quả không đáp ứng yêu cầu thị trường, khiến hiệu quả kinh tế suy giảm.
Ngay cả khi buộc phải chuyển sang giống có khả năng chống chịu, các biện pháp nông học vẫn phải được triển khai song song. TS Trần Ngọc Hùng cho rằng cải tạo đất là yêu cầu bắt buộc, bởi đất khỏe sẽ quyết định khả năng chống chịu thực tế của cây. Bón vôi giúp điều chỉnh pH, hạn chế môi trường thuận lợi cho nấm phát triển. Phân chuồng hoai mục và các vật liệu hữu cơ góp phần cải thiện cấu trúc đất, tăng đa dạng vi sinh vật có lợi, từ đó tạo sức ép sinh học lên mầm bệnh.
Bên cạnh đó, việc quản lý nước tưới, luân canh cây trồng và hạn chế cơ giới hóa không kiểm soát cũng đóng vai trò quan trọng. Những yếu tố này giúp giảm khả năng phát tán bào tử nấm trong vườn, đặc biệt ở những vùng đã từng ghi nhận bệnh.
10h50
Kinh nghiệm xử lý cây chuối bị nhiễm bệnh từ Đài Loan (Trung Quốc)
Theo TS. Chih-Ping Chao, kinh nghiệm tại Đài Loan cho thấy công tác quản lý bệnh héo vàng chuối đã từng áp dụng các biện pháp hóa học theo cách rất cụ thể và được kiểm soát chặt chẽ. Trước đây, tại những khu vực phát hiện cây chuối bị bệnh, việc xử lý được tiến hành trực tiếp ngay trên cây nhiễm.
TS. Chih-Ping Chao, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan (Trung Quốc), chia sẻ về cách quản lý bệnh héo vàng hại chuối bằng thuốc diệt cỏ.
Cụ thể, hóa chất sẽ được sử dụng để làm cho cây chuối bị bệnh nhanh chóng chết khô tại chỗ. Mục đích của biện pháp này là cắt đứt nguồn lây, ngăn không cho nấm tiếp tục phát tán sang các cây khỏe mạnh xung quanh.Sau khi cây đã khô, toàn bộ phần thân còn lại được chặt bỏ, cho vào túi ni-lông, bổ sung urê rồi buộc thật kín. Cách làm này giúp thúc đẩy quá trình phân hủy, đồng thời hạn chế tối đa sự phát tán của mầm bệnh ra môi trường đất.
Theo TS. Chih-Ping Chao, kết quả theo dõi thực tế cho thấy chỉ sau vài tháng áp dụng quy trình trên, khi kiểm tra lại, nồng độ nấm trong đất đã giảm rất nhanh, xuống mức rất thấp, chỉ còn chiếm vài phần trăm so với ban đầu.
10h35
Lựa chọn vùng trồng chuối cần được xem xét trên cơ sở khoa học
Theo ông Phạm Quốc Liêm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch Công ty Cổ phần Nông nghiệp U&I (Unifarm), việc lựa chọn vùng trồng chuối cần được xem xét trên cơ sở khoa học, bao gồm các yếu tố then chốt như thổ nhưỡng, khí hậu, nhiệt độ, nguồn nước, điều kiện lao động và logistics, đồng thời phải đánh giá rõ khu vực đó đã bị nhiễm bệnh Panama hay chưa.
Ông Phạm Quốc Liêm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch Công ty Cổ phần Nông nghiệp U&I (Unifarm).
Từ thực tiễn thử nghiệm tại nhiều vùng đất đã nhiễm bệnh, ông khẳng định giống chuối UNI 126 cho thấy tỷ lệ chống chịu bệnh rất tốt và hoàn toàn có thể xem xét để canh tác tại khu vực miền trung như Huế.
Một số giống chuối khác, như sản phẩm từ Viện Chuối Đài Loan, khi trồng tại Việt Nam thường xuất hiện hiện tượng lá xếp hình quạt khi trổ buồng và trái lên màu đồng, nâu do tác động của thời tiết. Theo nghiên cứu, tỉ lệ xỉn màu có thể lên tới 50%, rất khó để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Mặt khác, UNI 126 được chọn tạo từ giống Williams, mang đặc tính hình thái ổn định, không xuất hiện hiện tượng lá hình quạt khi trổ buồng. Bên cạnh đó, trái không bị xỉn màu, thời gian từ trồng đến ra quả được rút ngắn 1-2 tháng, khả năng ra chồi non nhanh. Qua 5 năm, nhiều vườn trồng đã thu hoạch 9-10 thế hệ và vẫn duy trì vai trò vườn đầu dòng, chứng minh rằng giống chuối UNI 126 không bị thoái hóa và luôn giữ vững tính ổn định.
10h25
Đã có dự án kiểm soát bệnh Panama do chủng TR4 gây ra
Thông tin được ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, nêu và thừa nhận trước đây, các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự đánh đổi rõ ràng giữa khả năng chống chịu và đặc điểm thương mại. Những giống có mức chống chịu cao hơn lại không đạt yêu cầu về hình dạng quả, mẫu mã buồng, trong khi các giống có hình thức đẹp, phù hợp thị hiếu thị trường thì khả năng chống chịu bệnh thấp hơn. Đây là điểm nghẽn lớn trong quá trình đưa giống mới vào sản xuất đại trà.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả.
Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Rau quả, nấm gây bệnh Panama nguy hiểm không chỉ vì khả năng tồn tại lâu dài trong đất mà còn do thời điểm gây hại trùng với giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của cây chuối. Khi cây đã nhiễm bệnh, các biện pháp canh tác thông thường hầu như không phát huy hiệu quả. Việc xử lý đất, luân canh hoặc tiêu hủy cây bệnh đều kéo dài thời gian và làm tăng chi phí cho người trồng.
Nhiều vườn chuối bị mất trắng chỉ sau một vụ khi bệnh xuất hiện trên diện rộng. Đặc biệt, các vùng chuyên canh chuối, nơi mật độ trồng cao và sử dụng giống đồng nhất, có nguy cơ lây lan rất nhanh. Trong bối cảnh đó, giống chống chịu được xem là giải pháp nền tảng, mang tính lâu dài để kiểm soát bệnh.
Dù vậy, ông Dũng cho rằng không thể chỉ nhìn vào chỉ tiêu chống chịu khi đánh giá giống. Chuối là cây trồng hàng hóa, chịu áp lực lớn từ thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Hình dạng quả, độ đồng đều của buồng, kích thước và màu sắc vỏ là những yếu tố quyết định khả năng tiêu thụ. Nếu giống có khả năng chống chịu tốt nhưng không đáp ứng yêu cầu thương mại, người dân và doanh nghiệp khó chấp nhận.
Viện đang tiếp tục sàng lọc, lai tạo và đánh giá các dòng giống nhằm cân bằng giữa khả năng chống chịu bệnh Panama và chất lượng thương phẩm. Tuy nhiên, đây là quá trình dài, đòi hỏi thời gian thử nghiệm nhiều năm trong các điều kiện sinh thái khác nhau, đặc biệt tại những vùng có áp lực bệnh cao.
Vừa qua, Viện được giao thực hiện Dự án “Hỗ trợ khẩn cấp để kiểm soát và quản lý bệnh héo vàng lá chuối do nấm Fusarium chủng TR4 gây ra tại Việt Nam”. Thông qua dự án, ông Dũng kỳ vọng tuyển chọn 1-2 giống chuối kháng hoặc chống chịu TR4, thông qua đánh giá nguồn gen bản địa và nhập nội, làm cơ sở khoa học cho lai tạo và nhân rộng trong sản xuất.
10h15
Cần tìm cách 'sống chung với nấm' trong hệ sinh thái đất cân bằng và khỏe mạnh
Theo ông Võ Đình Long, giảng viên Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, muốn phòng trừ hiệu quả bệnh héo vàng chuối thì cần đi sâu vào “gốc rễ” của nấm gây bệnh, hiểu rõ đặc điểm tồn tại và điều kiện phát sinh của nó, từ đó điều chỉnh giải pháp cho phù hợp, thay vì chỉ xử lý phần ngọn.
Ông Võ Đình Long, giảng viên Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, thảo luận tại Diễn đàn.
Trước hết là đặc điểm phân bố của nấm trong đất. Qua khảo sát và lấy mẫu thực tế, ông Long cho biết nấm héo vàng chuối thường không phân bố quá sâu, hiếm khi vượt quá 80 cm, nhưng mật độ cao nhất tập trung ở tầng đất từ 30-40 cm, đúng vào vùng rễ hoạt động mạnh. Đây là tầng đất cần được ưu tiên khi áp dụng các biện pháp cải tạo và quản lý đất.
Về điều kiện phát sinh gây hại, nấm phát triển mạnh nhất trong môi trường nóng ẩm, đất thoát nước kém, kết hợp với tình trạng dinh dưỡng mất cân đối. Ba yếu tố này thường đi kèm và tạo điều kiện thuận lợi để bệnh bùng phát. Do đó, các giải pháp phòng trừ cần xuất phát từ việc cải thiện môi trường đất và điều kiện sinh trưởng của cây.
Theo ông Long, hiện nay có nhiều biện pháp được áp dụng như tiêu hủy cây bệnh, chọn giống, lai tạo, chỉnh sửa gen, vệ sinh dụng cụ, kiểm soát ra vào vườn. Đây đều là những giải pháp cần thiết, nhưng nếu không giải quyết nguyên nhân nền tảng thì hiệu quả sẽ khó bền vững. Vì vậy, việc điều chỉnh môi trường đất cần được đặt ở vị trí trung tâm.
Bên cạnh đó, các yếu tố cơ học của đất như độ xốp, độ đệm và “sức khỏe” tổng thể của đất cũng rất quan trọng. Theo ông Long, đây là những nội dung cần được thảo luận nhiều hơn, bởi đất khỏe sẽ giúp cây tăng khả năng chống chịu với bệnh.
Đất khỏe sẽ giúp cây tăng khả năng chống chịu với bệnh.
Một yếu tố then chốt khác là hệ vi sinh vật đất. Khi nấm bệnh đã tồn tại sâu và dai dẳng trong đất, các biện pháp như vệ sinh dụng cụ hay hạn chế đi lại chỉ giúp giảm lây lan, chứ không xử lý được nguồn bệnh. Giải pháp căn cơ hơn là tăng cường các nhóm vi sinh vật có lợi, vừa cải tạo kết cấu và độ đệm đất, vừa tạo cơ chế ức chế nấm bệnh một cách tự nhiên. Từ đó, mục tiêu không phải là tiêu diệt hoàn toàn nấm - điều gần như không thể - mà là tạo ra hệ sinh thái đất cân bằng để có thể “sống chung với nấm”.
Ông Long cũng nhấn mạnh rằng nấm thường tấn công mạnh khi cây chuối bị suy yếu. Nguyên nhân khiến cây yếu rất đa dạng, trong đó phổ biến là dinh dưỡng mất cân đối. Vì vậy, cần điều chỉnh dinh dưỡng ngay từ đầu và theo sát điều kiện thực tế. Ông dẫn ví dụ tại nhiều trang trại lớn, việc bón phân thường theo công thức cố định, thiếu linh hoạt theo thời tiết. Khi mưa nhiều làm thay đổi điều kiện đất, dinh dưỡng vẫn được đưa vào theo cách “tự động”, dẫn đến mất cân đối và làm cây suy yếu.
10h05
Hóa chất sẽ phát huy hiệu quả nếu được áp dụng đúng thời điểm và đúng quy mô
Trả lời câu hỏi về biện pháp phủ hữu cơ và compost, TS. Mary khuyến cáo việc triển khai cần đi kèm quy trình vệ sinh nghiêm ngặt: toàn bộ dụng cụ canh tác phải được làm sạch và khử trùng trước khi sử dụng, kể cả những công cụ đơn giản như cuốc, nhằm tránh phát tán mầm bệnh trong vườn. Tùy theo loại hóa chất, có thể phun trực tiếp lên cây hoặc sử dụng ở giai đoạn chuẩn bị hố trồng. Với các hố đã đào, hóa chất được rải như một lớp nền và chỉ sử dụng với liều lượng phù hợp, không lạm dụng.
TS. Chih-Ping Chao, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan (Trung Quốc) trong phiên thảo luận thuộc khuôn khổ Diễn đàn.
TS. Chih-Ping Chao bổ sung thêm, hóa chất sẽ phát huy hiệu quả chặn đứng quá trình lây lan bệnh nếu được áp dụng đúng thời điểm và đúng quy mô. Ở ổ bệnh nhỏ, nông dân có thể bơm thuốc diệt cỏ trực tiếp vào thân cây nhiễm bệnh, sau đó băm nhỏ, đóng gói cách ly và đưa ra khỏi khu vực trồng; trong trường hợp bệnh đã lan rộng, việc lựa chọn và sử dụng hóa chất cần căn cứ vào từng “điểm nóng” cụ thể của vùng sản xuất để đạt hiệu quả kiểm soát cao nhất.
10h00
Quyền với giống cây trồng phát sinh ngay từ thời điểm nộp đơn bảo hộ
Theo Luật Sở hữu trí tuệ, bằng bảo hộ giống cây trồng chỉ có giá trị pháp lý đầy đủ khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp. Khi đó, tác giả có toàn bộ quyền đối với giống, bao gồm quyền sản xuất, kinh doanh và xử lý các hành vi xâm phạm. Tuy nhiên, luật không để trống khoảng thời gian từ lúc nộp đơn đến khi được cấp bằng.
Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và BVTV Nguyễn Quốc Mạnh phát biểu trong phiên thảo luận thuộc khuôn khổ Diễn đàn "Tìm giải pháp phòng trừ bệnh héo vàng hại chuối", sáng 13/12.
Cụ thể, ngay sau khi nộp đơn đăng ký, tác giả đã có quyền tạm thời đối với giống cây trồng. Quyền này được áp dụng trong toàn bộ thời gian khảo nghiệm và thẩm định hồ sơ. Trong giai đoạn đó, giống chưa có bằng bảo hộ chính thức, nhưng quyền lợi của người chọn tạo đã được pháp luật ghi nhận.
Quyền tạm thời cho phép tác giả yêu cầu tổ chức, cá nhân khác dừng việc sản xuất, kinh doanh thương mại giống cây trồng nếu phát hiện giống bị khai thác trái phép. Đồng thời, tác giả có quyền thu thập, lưu giữ bằng chứng về các hành vi vi phạm xảy ra trong thời gian chờ cấp bằng.
Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Quốc Mạnh, việc thu thập bằng chứng trong giai đoạn này có ý nghĩa quyết định. Khi bằng bảo hộ được cấp, các bằng chứng đã được ghi nhận trước đó là cơ sở để tác giả đề nghị cơ quan quản lý nhà nước xem xét, xử lý hành vi vi phạm theo quy định pháp luật.
Cách tiếp cận này nhằm bảo vệ tác giả ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý khi quyền đã bị xâm phạm trên diện rộng. Trong thực tế, quá trình khảo nghiệm giống cây trồng thường kéo dài, trong khi nhiều giống có khả năng nhân nhanh, dễ bị đưa ra thị trường sớm. Nếu không có cơ chế quyền tạm thời, tác giả có nguy cơ mất kiểm soát giống trước khi được cấp bằng.
Quy định về quyền tạm thời cũng đặt ra yêu cầu đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng. Việc khai thác, thương mại hóa giống đang trong quá trình đăng ký bảo hộ tiềm ẩn rủi ro pháp lý, nếu không xác định rõ tình trạng sở hữu trí tuệ của giống. Nhiều tranh chấp phát sinh do chưa hiểu đúng quy định này.
Trong bối cảnh nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng ngày càng được đầu tư bài bản, việc hiểu rõ ranh giới giữa quyền tạm thời và quyền đầy đủ theo bằng bảo hộ là yếu tố then chốt. Quyền tạm thời không thay thế bằng bảo hộ, nhưng là công cụ pháp lý để bảo vệ giống trong giai đoạn chờ đợi, khi rủi ro xâm phạm xảy ra cao nhất.
9h25
Giống chuối UNI 126 có khả năng chống chịu TR4 trên 95%
Theo ThS. Tô Thị Nhã Trầm, Công ty CP Nông nghiệp U&I (Unifarm), dịch bệnh Panama do TR4 bắt đầu xuất hiện rải rác tại nông trường từ năm 2018 và bùng phát mạnh vào năm 2019.
ThS. Tô Thị Nhã Trầm, Công ty CP Nông nghiệp U&I (Unifarm).
Trước tình hình đó, đơn vị phải thành lập tổ chuyên gia để đánh giá, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời cây nhiễm bệnh. Unifarm cũng triển khai đồng bộ nhiều biện pháp phòng chống như thiết lập hàng rào sinh học nghiêm ngặt với hệ thống khử trùng tại tất cả cổng ra vào, quy trình bắt buộc cho công nhân nhằm hạn chế lây nhiễm chéo, cùng quy trình khảo sát và xử lý sớm cây bệnh.
Tuy nhiên, các biện pháp hóa học và sinh học đều không hiệu quả khi vùng trồng đã nhiễm bệnh Panama. Unifarm xác định, việc chọn tạo ra giống chuối có khả năng chống chịu bệnh là giải pháp căn cơ và cấp thiết nhất đối với Việt Nam.
Trong giai đoạn 2018-2020, tổ chuyên gia Unifarm đã tiến hành nuôi cấy mô bằng những cá thể chuối vẫn sinh trưởng tốt trong vùng nhiễm bệnh nặng. Tiếp đó, những cá thể này được xử lý đột biến có kiểm soát và khảo nghiệm nghiêm ngặt, từ đó phát triển thành công giống chuối UNI 126. Đây là giống có khả năng chống chịu bệnh Panama TR4 trên 95%, năng suất đạt 50-65 tấn/ha/vụ và hiện đã được mở rộng trồng trên hơn 1.500 ha tại Unifarm và các đơn vị liên kết.
Để bảo vệ thành quả khoa học và kinh doanh, Unifarm đang tiến hành khảo nghiệm DUS (Đặc tính, Độ đồng nhất và Độ ổn định) cùng Viện Cây ăn quả miền Nam để hoàn tất việc xin cấp văn bằng bảo hộ sở hữu giống.
Công tác nghiên cứu giống chuối kháng bệnh, năng suất cao tại Unifarm.
ThS. Tô Thị Nhã Trầm nhấn mạnh, Unifarm đặt mục tiêu sử dụng giống chống chịu vượt trội như UNI 126 để đưa ngành chuối Việt Nam đạt mốc 1 tỉ USD giá trị xuất khẩu và vươn lên nhóm dẫn dắt toàn cầu đến năm 2030.
“Các loại giống mới như UNI 126 sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng cho ngành chuối Việt Nam. Chúng tôi cam kết phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để sớm hoàn tất thủ tục công bố lưu hành, đưa giống chuối UNI 126 đến tay nông dân tại các vùng trồng chuối.
Unifarm kêu gọi các doanh nghiệp, nông hộ và cơ sở ươm giống lựa chọn nguồn giống từ các kênh chính thức, tránh sử dụng giống trôi nổi, nhái tên hoặc mạo danh UNI 126 gây rủi ro cho sản xuất. Đồng thời, chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự đồng hành của các cơ quan quản lý trong việc giới thiệu, quảng bá và hỗ trợ ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu giống, không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của Unifarm mà còn vì sự phát triển bền vững và lợi ích lâu dài của ngành chuối Việt Nam”, ThS. Trầm chia sẻ.
9h10
Phát triển giống chuối kháng bệnh là hướng đi then chốt
TS. Mary Grace B. Saldajeno, chuyên gia của Tập đoàn Dole, cho biết bệnh héo vàng chuối (Panama) đang là thách thức nghiêm trọng nhất đối với ngành chuối toàn cầu, trong đó có các vùng trồng của Dole tại Philippines và Việt Nam.
TS. Mary Grace B. Saldajeno, chuyên gia của Tập đoàn Dole.
Bệnh héo vàng chuối bắt đầu được ghi nhận tại Philippines từ năm 2002 ở Calinan, Davao, với các triệu chứng điển hình. Đến cuối năm 2005, ca nhiễm đầu tiên được xác nhận chính thức. Trong giai đoạn 2008-2009, các báo cáo khoa học khẳng định sự hiện diện của bệnh, và từ năm 2010 đến 2015, bệnh lan nhanh khắp Mindanao, gây thiệt hại lớn về diện tích trồng chuối Cavendish.
Tác nhân gây bệnh là nấm Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Foc), tồn tại lâu dài trong đất và sinh sản vô tính với nhiều dạng bào tử khác nhau, khiến việc kiểm soát đặc biệt khó khăn. Cây bệnh có biểu hiện lá già vàng trước, lá sụp, héo và chết; giả thân có thể nứt dọc. Bên trong, mạch dẫn ở cuống lá, giả thân và củ thân đổi màu từ đỏ nâu đến nâu đậm. Bệnh lây lan chủ yếu qua chồi giống nhiễm bệnh, đất, dụng cụ - máy móc nông nghiệp, nguồn nước tưới bị nhiễm, cũng như cỏ dại và các loài cây ký chủ phụ.
Đáng lo ngại nhất là chủng nấm TR4, có khả năng gây hại trên nhiều giống chuối, không chỉ Cavendish. Một khi đã xâm nhập vào đất, TR4 rất khó loại bỏ, trong khi hiện chưa có giống thay thế Cavendish phù hợp ở quy mô thương mại.
Tại Dole Philippines, bệnh héo vàng do Fusarium được chính thức ghi nhận từ năm 2008. Đến năm 2012, số cây nhiễm bệnh định kỳ khoảng 10.000 cây. Con số này tăng mạnh và đến cuối năm 2018 đạt mức cao nhất, khoảng 60.000 ca trên toàn bộ các chi nhánh.
Giống chuối Cavendish bị nấm Fusarium gây hại.
Trước thực tế đó, Dole áp dụng chiến lược quản lý tổng hợp. Trọng tâm là phòng ngừa và loại trừ sớm: đào tạo kỹ năng nhận diện triệu chứng, nhổ bỏ và tiêu hủy cây bệnh, sử dụng cây giống sạch bệnh được nhân bằng nuôi cấy mô, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp kiểm dịch và an ninh sinh học để ngăn chặn TR4 lây lan.
Các biện pháp canh tác được triển khai đồng bộ, bao gồm sử dụng các dòng chuối có khả năng chống chịu (từ biến dị soma, chọn lọc tự nhiên, lai tạo tăng tốc hoặc gây đột biến), tăng cường vệ sinh đồng ruộng, quản lý nước và hệ thống thoát nước tại vùng dễ úng. Việc sử dụng vật liệu phủ hữu cơ và compost có tính ức chế giúp cải thiện hệ vi sinh vật đất cũng được chú trọng.
Bên cạnh đó là các biện pháp cơ học - vật lý như khử trùng dụng cụ, thiết bị, lắp đặt bể rửa chân, bể khử trùng bánh xe và các chốt kiểm soát an ninh sinh học. Kiểm soát sinh học được tăng cường thông qua bổ sung vi sinh vật có lợi và sử dụng các sản phẩm sinh học thương mại. Hóa học chỉ đóng vai trò hỗ trợ, chủ yếu phục vụ vệ sinh, an toàn sinh học và cải tạo đất để tạo điều kiện bất lợi cho nấm TR4.
Về lâu dài, TS. Mary Grace B. Saldajeno cho rằng, phát triển giống chuối kháng bệnh là hướng đi then chốt. Hiện nay, các phương pháp như biến dị soma, lai tạo truyền thống, gây đột biến, lai tạo tăng tốc và chỉnh sửa gen đang được triển khai trên toàn cầu. Trong đó, chỉnh sửa gen được xem là bước tiến quan trọng nhờ khả năng thay đổi có mục tiêu gen của cây mà không đưa gen lạ vào, giúp tăng khả năng kháng bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tuy vậy, các giống chuối kháng bệnh vẫn còn nhiều hạn chế, khi phần lớn chỉ đạt mức chịu đựng chứ chưa miễn nhiễm hoàn toàn, hiệu quả phụ thuộc điều kiện sinh thái, đồng thời còn đối mặt với rào cản thị trường, quy định quản lý và nguy cơ mầm bệnh tiếp tục thích nghi trong tương lai.
8h55
Kinh nghiệm xử lý chủng TR4 tại Philippines
Hơn 10.000 ha chuối Cavendish tại Philippines từng bị bỏ hoang vì bệnh héo vàng Panama chủng Tropical Race 4 (TR4) đã được đưa trở lại sản xuất nhờ chuyển sang trồng giống Formosana. Kết quả này đạt được sau gần 10 năm thử nghiệm, đánh giá và nhân rộng trên quy mô thương mại.
Theo TS. Chih-Ping Chao, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chuối Đài Loan (Trung Quốc), TR4 là chủng nấm đất có khả năng tồn tại hàng chục năm, lây lan qua giống, đất, nước tưới, phương tiện và con người. Khi đã xuất hiện, biện pháp hóa học gần như không hiệu quả, còn việc tiêu hủy vườn chỉ giúp khoanh vùng chứ không thể làm sạch đất.
TS. Chih-Ping Chao, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chuối Đài Loan (Trung Quốc).
Tại Philippines, TR4 được ghi nhận trên chuối Cavendish từ 2000, lan nhanh xuống vùng thấp và đến năm 2013 đã làm hàng nghìn ha mất khả năng canh tác, trong đó nông hộ nhỏ lẻ chịu ảnh hưởng nặng nhất.
Thay vì tiếp tục mở rộng diện tích sang vùng mới để bù sản lượng - một con đường làm tăng nguy cơ phát tán mầm bệnh - Philippines quyết định phục hồi vùng nhiễm bằng giống có khả năng chống chịu. Giống Formosana (GCTCV-218), được phát triển từ biến dị soma (thay đổi về đặc tính di truyền hoặc hình thái xảy ra ở tế bào sinh dưỡng của cây trồng, thường gắn với nuôi cấy mô và có tính ổn định di truyền) của Cavendish, do Viện Nghiên cứu Chuối Đài Loan (TBRI) xây dựng, phát triển.
Dữ liệu cho thấy GCTCV-218 và GCTCV-219 có tỷ lệ cây nhiễm TR4 rất thấp trong các lô trồng thương mại đã nhiễm bệnh nặng. Giai đoạn 2012-2015, nhiều lô GCTCV-219 gần như không nhiễm bệnh, trong khi giống Cavendish phổ biến như Grand Naine có tỷ lệ nhiễm lên tới 87% trong cùng điều kiện. Dù năng suất và một số chỉ tiêu nông học chưa đạt so với giống mẫn cảm, các giống mới được đánh giá đủ khả năng khôi phục sản xuất, đặc biệt ở những khu vực không thể luân canh cây trồng.
Đến năm 2025, tổng diện tích chuối Cavendish nhiễm TR4 được phục hồi bằng giống Formosana tại Philippines đã vượt 10.000 ha. Kết quả này có được một phần nữa là nhờ các biện pháp quản lý sức khỏe cây trồng.
Philippines là nước xuất khẩu chuối hàng đầu trên thế giới.
Trước hết là kiểm soát sinh học và kỹ thuật tiêu hủy cây bệnh tại “điểm nóng”, kết hợp xử lý mô thực vật sau chặt để hạn chế nguồn lây. Các biện pháp ngăn vi khuẩn tái xâm nhập cũng được áp dụng như hàng rào sinh học, khử trùng phương tiện và thoát nước bề mặt.
Một điểm then chốt khác là giống. Giống sử dụng được nuôi cấy mô, giúp cắt đường lây nhiễm phổ biến nhất của TR4 là qua vật liệu trồng không kiểm soát. Các nhà khoa học cũng khuyến nghị người trồng có thể cân nhắc thêm phương pháp luân canh chuối với lúa nước hoặc khoai môn để hạ mật độ nấm trong đất, cải tạo đất bằng vật liệu hữu cơ, hoặc che phủ và trồng xen nhằm hạn chế xói mòn và lây lan qua dòng chảy.
So với Philippines, Việt Nam đối mặt thách thức tương tự nhưng ở quy mô nhỏ và phân tán hơn. Ngành chuối trong nước tăng trưởng, song tỷ lệ phụ thuộc vào nhóm dễ mẫn cảm như Cavendish khá lớn, khiến nguy cơ rủi ro dài hạn. Các nghiên cứu trong nước đã chọn lọc được một số dòng có khả năng chống chịu trung bình, như GL3-5 từ biến dị soma của Williams, được đánh giá đạt yêu cầu về nông học và chất lượng sau quá trình khảo nghiệm tại miền Bắc.
8h35
Việt Nam chủ động ứng phó bệnh héo vàng lá chuối do TR4
Việt Nam được xem là trung tâm của nhiều nguồn gen chuối đa dạng, với 8 nhóm chính (AA, AAA, AAB, AB, ABB, ABBB, BBB, BB), trong đó cơ bản có hai nhóm chủ lực là: chuối tiêu và chuối tây. Theo TS. Trần Ngọc Hùng, Bộ môn Công nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Rau quả, bệnh héo vàng hại chuối tại Việt Nam (còn gọi là bệnh Panama) đang là mối đe dọa lớn đối với ngành, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và sinh kế. Tác nhân gây bệnh là Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Foc), một loại nấm sống trong đất, xâm nhập qua rễ và làm tắc nghẽn mạch dẫn của cây, dẫn đến các triệu chứng điển hình như vàng lá và héo rũ từ lá già.
TS. Trần Ngọc Hùng, Bộ môn Công nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Rau quả.
Các chủng Foc (races) được phân thành nhiều chủng: Chủng 1 và Chủng 2 gây hại trên các giống quan trọng như chuối Già (Gros Michel - AA), chuối Sứ (Silk - AAB), chuối Cau (Lady Finger - AAB), chuối Tây (ABB) và Bluggoe (ABB); Chủng 3 gây hại ở các loài thuộc chi Heliconia (họ chuối pháo) và Chủng 4 (Tropical Race 4 - TR4). Đây là chủng nguy hiểm và đáng lo ngại nhất hiện nay. TR4 không chỉ gây hại trên chuối Tiêu (AAA) mà còn trên tất cả các giống mẫn cảm với Chủng 1 và Chủng 2, đe dọa trực tiếp đến chuối Tiêu - giống chuối chủ lực cho xuất khẩu.
Trước nguy cơ lây lan nhanh và quy mô toàn cầu của TR4, nhiều vùng trồng chuối Tiêu đã bị hủy diệt hoàn toàn, buộc nông dân phải chuyển sang cây trồng khác. Kết quả điều tra tình hình bệnh của Cục Bảo vệ thực vật (từ tháng 10/2018 - tháng 1/2019) tại 12 tỉnh cho thấy, có 246/863 điểm xuất hiện TR4, khẳng định mức độ lây lan nghiêm trọng của chủng nấm này tại Việt Nam.
TR4 không chỉ gây hại trên chuối Tiêu (AAA) mà còn trên tất cả các giống mẫn cảm với Chủng 1 và Chủng 2.
Để ứng phó với tình hình dịch bệnh, Việt Nam đã tích cực tham gia các hội nghị tập huấn và hoạt động của các tổ chức quốc tế như BAPNET (Mạng lưới châu Á - Thái Bình Dương về Chuối) và Bioversity nhằm tìm kiếm giải pháp đối phó chung. Công tác nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh thông qua việc công bố các báo cáo chuyên sâu về bệnh, đồng thời cán bộ sang học tập, trao đổi kinh nghiệm tại các viện nghiên cứu quốc tế.
“Chúng tôi tập trung xác định và chọn tạo các giống chuối có khả năng chống chịu bệnh như một giải pháp căn cơ, lâu dài và bền vững. Đặc biệt, việc phê duyệt và triển khai Dự án ‘Hỗ trợ khẩn cấp để kiểm soát và quản lý bệnh héo vàng lá chuối do nấm Fusarium chủng Tropical Race 4 (TR4) gây ra tại Việt Nam’ do FAO tài trợ đã thể hiện rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc kiểm soát dịch bệnh ở tầm quốc gia”, TS. Hùng cho biết.
8h20
Có những lô chuối chưa đủ điều kiện xuất khẩu làm giá bán thiếu ổn định
Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, định hướng phát triển ngành chuối trong thời gian tới là xây dựng nền sản xuất bền vững, đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu khắt khe của những thị trường xuất khẩu mới và đang mở rộng.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, tham luận tại Diễn đàn.
Đến năm 2025, diện tích trồng chuối cả nước ước đạt hơn 163.000 ha, với sản lượng khoảng 2,75 triệu tấn. Chuối hiện đã trở thành một trong những loại trái cây xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Riêng năm 2024, kim ngạch xuất khẩu chuối đạt gần 372 triệu USD, cho thấy dư địa tăng trưởng còn rất lớn.
Tuy nhiên, quá trình phát triển của ngành chuối vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tổ chức sản xuất chưa thực sự hiệu quả, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, gây trở ngại cho việc đầu tư đồng bộ, quản lý chất lượng, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng các liên kết chuỗi.
Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu như khô hạn, xâm nhập mặn cùng với diễn biến phức tạp của sâu bệnh hại đang ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng chuối. Hạ tầng phục vụ sản xuất tập trung chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi khâu bảo quản, sơ chế, đóng gói dù đã được cải thiện nhưng vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ.
Thông tin thị trường đến với người sản xuất còn hạn chế, giá cả biến động khó lường, đặc biệt với các lô hàng chưa đủ điều kiện xuất khẩu nên giá bán thiếu ổn định. Ngoài ra, các rào cản kỹ thuật từ thị trường nhập khẩu, nhất là yêu cầu về kiểm dịch thực vật và dư lượng hóa chất an toàn thực phẩm, cũng tạo áp lực không nhỏ cho người trồng và doanh nghiệp.
Chia sẻ thêm về thị trường Trung Quốc, thị trường tiêu thụ chuối lớn của Việt Nam, ông Mạnh cho biết, tiêu chuẩn sản phẩm được quy định rất cụ thể. Chuối tươi phải được thu hoạch trong khoảng 10-16 tuần sau khi ra hoa, ở trạng thái chưa chín. Tuyệt đối không xuất khẩu chuối đã chín hoặc bị nứt vỏ.
Chuối tươi phải được thu hoạch trong khoảng 10-16 tuần sau khi ra hoa, ở trạng thái chưa chín. Tuyệt đối không xuất khẩu chuối đã chín hoặc bị nứt vỏ.
Về vùng trồng, tất cả các vùng sản xuất phải đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và được Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) phê duyệt. Đồng thời, vùng trồng phải lưu trữ đầy đủ hồ sơ giám sát và phòng trừ sinh vật gây hại, đặc biệt là nhật ký sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, để sẵn sàng cung cấp khi phía GACC kiểm tra.
Đối với cơ sở đóng gói, yêu cầu đặt ra là phải có mã số được phê duyệt, cơ sở vật chất đảm bảo nền cứng, sạch sẽ, khu vực xử lý và bảo quản được bố trí riêng biệt. Quy trình làm sạch bắt buộc phải phân loại, loại bỏ quả thối, quả biến dạng, lá và đất bám.
Bề mặt quả phải được làm sạch bằng súng áp lực cao hoặc lau thủ công nhằm loại bỏ rệp sáp, trứng côn trùng và bào tử nấm. Bao bì, nhãn mác phải thể hiện đầy đủ thông tin về tên sản phẩm, xuất xứ, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói bằng tiếng Trung hoặc tiếng Anh. Đồng thời, doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, cho phép truy ngược từ thành phẩm về tận vùng trồng.
8h10
Ngành chuối trước yêu cầu rà soát toàn chuỗi giá trị
PGS.TS Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam cho biết, năm 2022, Bộ đã ban hành Đề án phát triển cây ăn quả chủ lực, trong đó xác định chuối là một trong những mặt hàng trọng tâm. Mục tiêu của đề án là đưa kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 5 tỷ USD vào năm 2025 và 6,5 tỷ USD vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế đến năm nay, xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã vượt mốc 8 tỷ USD, cao hơn đáng kể so với kịch bản ban đầu.
PGS.TS Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, phát biểu khai mạc Diễn đàn "Tìm giải pháp phòng trừ bệnh héo vàng hại chuối", sáng 13/12.
Kết quả này cho thấy dư địa phát triển của ngành hàng rau quả, trong đó có chuối, vẫn còn lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải rà soát lại từng loại cây trồng một cách bài bản hơn. Theo ông Doanh, không chỉ chuối mà nhiều nhóm cây khác như cây có múi, dứa hay các loại cây ăn quả nhiệt đới đều cần được đánh giá lại về tiềm năng, hiệu quả kinh tế và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh và yêu cầu thị trường.
Diễn đàn hôm nay, vì thế, được xem là một trong những dịp để ngành chuối thực hiện quá trình rà soát đó. Chuối hiện là cây trồng có giá trị kinh tế cao, nằm trong nhóm có diện tích lớn nhất của ngành cây ăn quả Việt Nam. Sản lượng chuối cả nước ước đạt khoảng 2,8 triệu tấn mỗi năm, với năng suất và diện tích tăng đều qua các năm, phản ánh nhu cầu thị trường và khả năng mở rộng sản xuất.
Về thương mại, năm 2024, xuất khẩu chuối mang về cho Việt Nam khoảng 378 triệu USD. Con số này chưa tương xứng với quy mô sản xuất và tiềm năng của cây chuối, đặc biệt khi so sánh với các quốc gia trong khu vực đã xây dựng được chuỗi giá trị chuối xuất khẩu ổn định, gắn với tiêu chuẩn chất lượng và kiểm soát dịch bệnh nghiêm ngặt.
PGS.TS Lê Quốc Doanh cho rằng một trong những thách thức lớn nhất hiện nay của ngành chuối là dịch bệnh, đặc biệt là bệnh héo vàng do nấm Fusarium, thường được gọi là bệnh Panama. Tuy nhiên, ông lưu ý rằng nếu chỉ tập trung thảo luận vào bệnh Panama thì chưa đủ. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để nâng cao giá trị tổng thể của cây chuối, từ tổ chức sản xuất, giống, kỹ thuật canh tác đến thị trường tiêu thụ.
Trong thực tế, thời gian qua đã xuất hiện một số doanh nghiệp đầu tư bài bản vào ngành chuối, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng quy trình kỹ thuật đồng bộ và hướng đến thị trường xuất khẩu. PGS.TS Lê Quốc Doanh dẫn ví dụ Unifarm là một trong những doanh nghiệp đi theo hướng này, cho thấy nếu có chiến lược dài hạn và kiểm soát tốt dịch bệnh, cây chuối hoàn toàn có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu ổn định, giá trị cao.
Nếu có chiến lược dài hạn và kiểm soát tốt dịch bệnh, chuối hoàn toàn có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu ổn định, giá trị cao.
Trên cơ sở đó, ông đề nghị các đại biểu tham dự diễn đàn tập trung thảo luận sâu hơn về tiềm năng và cơ hội phát triển của cây chuối trong bối cảnh mới. Theo ông, phòng trừ bệnh héo vàng là nội dung quan trọng, nhưng cần đặt trong bức tranh tổng thể của tái cơ cấu ngành chuối, gắn với nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.
Ông nhấn mạnh, trong bối cảnh xuất khẩu rau quả đã vượt xa mục tiêu đề án, việc tiếp tục điều chỉnh, cập nhật chiến lược cho từng cây trồng chủ lực là cần thiết. Với chuối, điều này không chỉ dừng ở giải pháp kỹ thuật phòng bệnh, mà còn bao gồm chính sách hỗ trợ, liên kết sản xuất, nghiên cứu giống chống chịu và xây dựng thương hiệu trên thị trường quốc tế.
Nếu tận dụng tốt những lợi thế sẵn có và giải quyết đồng bộ các điểm nghẽn, chuối hoàn toàn có thể đóng góp lớn hơn vào kim ngạch xuất khẩu rau quả trong giai đoạn tới, phù hợp với quy mô và vị thế của một cây trồng thuộc nhóm chủ lực của ngành nông nghiệp.


















