GS.TS Phan Sỹ Kỳ đã gần 90 tuổi, nhưng ông vẫn miệt mài ngày đêm với những bản vẽ thiết kế thi công, tư vấn kỹ thuật cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) những công trình thủy lợi lớn, có tính chất kỹ thuật thi công phức tạp. Ví nôm na cho dễ hiểu, ông bảo, đó là những công trình “xương xẩu”, rất khó làm, suất đầu tư rất lớn, bởi gần như các công trình dễ làm, chúng ta đã làm trước đó rồi.
Suốt gần 30 năm qua, kể từ khi nghỉ hưu, ông dường như “tàng hình” trước truyền thông để dành tâm lực cho các công trình nghiên cứu chuyên ngành thủy lợi. Trước thềm một sự kiện đặc biệt, chúng tôi mới có dịp được nghe ông trải lòng về những “nấc thang” phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ xây dựng công trình thủy lợi Việt Nam, đặc biệt là hồ đập…

GS. TS Phan Sỹ Kỳ - nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chia sẻ về những dấu ấn phát triển vượt bậc trong xây dựng công trình thủy lợi Việt Nam. Ảnh: Đồng Thái.
Tầm vóc mới, vị thế mới của ngành thủy lợi
GS.TS Phan Sỹ Kỳ cho biết, thủy lợi Việt Nam đứng hàng đầu thế giới về suất đầu tư, về diện tích được tưới, được cấp nước. Để làm được điều đó, có công sức rất lớn của ngành xây dựng công trình.
Những năm 1995 trở về trước, hầu hết các công trình thủy lợi được đầu tư tương đối đơn giản, chủ yếu là kênh đất, đập đất. Thật khó để tưởng tượng chỉ sau khoảng hai thập kỷ, hàng loạt công trình hồ đập bê tông sừng sững đã ra đời, với công nghệ và thiết bị thi công hiện đại.
“Cảm giác giống như ngày xưa chúng ta xây nhà cấp 4, thì nay xây các tòa building cao 30 - 40 tầng. Những công trình đó làm nên tầm vóc mới, vị thế mới của ngành thủy lợi”, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phan Sỹ Kỳ, tâm sự.
Vị “lão tướng” của ngành thủy lợi bộc bạch, cả đời gắn bó với ngành thủy lợi, đến khi rời nhiệm sở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vào năm 1997, tôi có một nguyện vọng tha thiết là làm sao ngành thủy lợi của mình có được những công trình như các quốc gia trên thế giới, ít nhất cũng phải như Thái Lan. Thậm chí, thời điểm ấy, nước bạn Lào cũng có những công trình thủy lợi đi trước nước ta, do nước ngoài đầu tư vào.
Có thể nói, đến thời điểm đầu những năm 2000, công trình thủy lợi nào dễ và “ngon ăn” thì thời chúng tôi đã làm rồi, những công trình, dự án còn lại đều “xương xẩu” hết, khó cả về kỹ thuật và suất đầu tư cũng rất lớn. Thậm chí, nhiều công trình trước đây chúng tôi không bao giờ dám nghĩ sẽ làm được, thì nay nó đã hiện hữu, qua đó thể hiện sự trưởng thành, bản lĩnh và nâng tầm vị thế của ngành xây dựng công trình thủy lợi.

Đập hồ chứa nước Bản Lải được xây dựng bằng bê tông đầm lăn, giúp rút ngắn thời gian hoàn thành 8 tháng. Ảnh: ĐT.
Điển hình là dự án hồ chứa nước Bản Lải, tỉnh Lạng Sơn. GS. TS Phan Sỹ Kỳ kể: Từ năm 1967, tôi cùng các chuyên gia thủy lợi đã khảo sát địa hình, địa chất để lên phương án tuyến xây dựng hồ chứa nước Bản Lải trên sông Kỳ Cùng (tỉnh Lạng Sơn). Tuy nhiên, sau 3 năm khoan thăm dò để lên phương án tuyến, dự án bị “treo lơ lửng”, một phần vì không có vốn để làm, một phần vì không dám làm bởi địa chất ở vị trí xây đập quá phức tạp, chủ yếu là loại đá phiến sét hoặc đá phiến cát. Không những thế, để đắp được một cái đập mấy chục triệu mét khối đất thì tất cả cánh đồng xung quanh Bản Lải phải bóc hết đất mới đủ.
Phải chờ đợi nửa thế kỷ, công trình này mới được tái khởi động. Nhờ ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn để xây dựng đập, dự án đã hoàn thành vượt tiến độ 8 tháng. Hồ có dung tích lên tới 164,3 triệu m3 nước, là một trong những hồ chứa nước lớn nhất khu vực miền núi phía Bắc nước ta.
Định hình những tư duy mới
“Một trong những dấu ấn quan trọng của ngành xây dựng công trình trong hai thập kỷ qua, đó là đã định hình được tư duy mới. Ngày xưa mình làm thủy lợi cho một tỉnh, một huyện, nhưng bây giờ nhiều công trình thủy lợi có quy mô liên tỉnh, liên vùng, chuyển nước từ nơi thừa sang nơi thiếu, nơi mưa nhiều sang nơi mưa ít”, ông đúc kết và phân tích, nếu chúng ta chuyển nước bằng kênh như ngày trước thì không thể làm được, mà phải áp dụng công nghệ dẫn nước bằng đường ống khép kín bằng thép hoặc nhựa đường kính lớn, chịu áp lực cao để có thể luân chuyển nước qua nhiều dạng địa hình phức tạp.
Điển hình như nước từ hồ Sông Cái có thể dẫn nước sang các hồ Bà Râu, Sông Trâu, Cho Mo, Ông Kinh… thậm chí, Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ còn tạo nguồn tiếp nước cho vùng Nam Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa); giảm nhẹ lũ hạ du và nuôi trồng thủy sản lòng hồ.

Hệ thống đập hồ chứa nước sông Cái (tỉnh Ninh Thuận) thuộc Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ là đập bê tông đầm lăn dài nhất Việt Nam. Ảnh: ĐT.
Tại Kết luận số 36-KL/TW của Bộ Chính trị về Bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nêu rõ, phải đầu tư xây dựng công trình trữ nước ngọt, điều hòa, phân phối nguồn nước trong nội tỉnh, liên tỉnh, liên vùng, toàn quốc,… thì chúng ta đã và đang làm tốt.
Đặc biệt, theo GS.TS Phan Sỹ Kỳ, thành công nhất trong lĩnh vực xây dựng công trình thủy lợi thời gian qua là giải quyết tốt công tác đền bù, tái định cư. Khi làm hồ đập, diện tích ngập nước sẽ rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sinh kế của người dân trong vùng bị ngập. Bộ Chính trị, Thủ tướng luôn yêu cầu làm sao để người dân chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác phải có cuộc sống đàng hoàng hơn, tốt đẹp hơn, văn minh hơn.
Nhưng thực tế, nhiều khu tái định cư đời sống của người dân khó khăn hơn trước đó. Nếu không có tư duy đổi mới và không tâm huyết thì rất khó làm tốt công tác này. Xây một ngôi nhà cho người dân thì dễ, nhưng tạo ra cho họ cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì cực kỳ khó. Muốn có cuộc sống tốt phải có đất canh tác, có nước, có điện, đường, trường, trạm, nhà văn hóa… Còn nếu chỉ xây những ngôi nhà, thì bà con chỉ đến nhận tài sản rồi khóa cửa.
Thực tế, ngành thủy lợi đã làm việc này tốt hơn những ngành khác. Điển hình như tại dự án xây dựng hồ Đồng Mít (Gia Lai) hay hồ Ngàn Trươi (Hà Tĩnh), việc xây dựng những ngôi làng tái định cư là tiêu chí kỹ thuật bắt buộc, mặc dù việc đền bù đất đai, hỗ trợ di dân, tái định cư là nhiệm vụ chính của địa phương. Các đơn vị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải theo sát và đề nghị địa phương làm tốt vấn đề này, chứ không phải việc của Bộ chỉ có nhận mặt bằng sạch để đầu tư xây dựng công trình.
Biến công trình thủy lợi thành biểu tượng của vùng quê
Về mặt thẩm mỹ các công trình được đầu tư xây dựng trong những năm qua, GS.TS Phan Sỹ Kỳ cho rằng “cái nào cũng đẹp, cái nào cũng chất lượng, không kém gì các công trình lớn của quốc gia, thậm chí còn đẹp hơn”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cũng luôn ủng hộ các chuyên gia tư vấn, thiết kế công trình phải chú trọng tính thẩm mỹ, biến nó trở thành danh lam thắng cảnh, biểu tượng của một vùng quê vươn mình đổi mới.
Tư duy đó rất đúng, bởi khi đã có hồ nước rộng, có rừng và hệ sinh thái tự nhiên, vậy thì điều cần làm là tạo ra một công trình cho thật đẹp, thật thu hút. Ông ví, một dự án đầu tư hàng nghìn tỷ, nhưng nếu trích khoảng 5-10 tỷ đồng để cải tạo cảnh quan và nâng tính mỹ thuật của công trình, thì giá trị mang lại cho xã hội, cho cộng đồng vô cùng lớn.
Sở dĩ trong giai đoạn vừa qua, ngành thủy lợi xây dựng được những công trình ấn tượng quy mô lớn trên khắp cả nước, là nhờ Bộ luôn quý trọng người tài, luôn biết lắng nghe các ý kiến góp ý của các chuyên gia giỏi ở từng lĩnh vực, từ đó quyết định các phương án, giải pháp đầu tư đạt hiệu quả nhất.
Trong số các ý kiến góp ý, không phải ý kiến nào cũng đúng và mang tính xây dựng, do đó đội ngũ nhân sự của các cơ quan chuyên ngành về quản lý xây dựng công trình của Bộ phải thực sự hiểu sâu, có tầm nhìn và bản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm để tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo Bộ giải pháp tối ưu nhất, tiết kiệm nhất, thẩm mỹ nhất, đạt hiệu quả cao nhất, khai thác tối đa nguồn lợi từ nước để phục vụ đa ngành, đa mục tiêu.