Trong bối cảnh ngành sữa Việt Nam đối mặt với xu hướng giảm đàn nhưng vẫn phải đáp ứng nhu cầu sản lượng ngày càng tăng, việc ứng dụng công nghệ cao vào cải tiến di truyền đang trở thành hướng đi tất yếu.
Tại Hội nghị khoa học, công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất ngày 28/3, ông Trần Trung Mỹ, Giám đốc QA Khối Trang trại Tập đoàn TH, đã chia sẻ kết quả ứng dụng chuỗi công nghệ phôi (OPU - IVP - ET) trong nhân giống bò sữa năng suất cao.
Ông Trần Trung Mỹ, Giám đốc QA Khối Trang trại Tập đoàn TH, tại Hội nghị khoa học, công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất, ngày 28/3. Ảnh: Tùng Đinh.
Theo ông Mỹ, ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý: quy mô đàn có xu hướng giảm, trong khi yêu cầu về sản lượng và chất lượng sữa ngày càng cao. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng suất trên từng cá thể vật nuôi thay vì mở rộng số lượng.
Trong khi phương pháp thụ tinh nhân tạo truyền thống giúp cải thiện di truyền nhưng tiến độ còn chậm, thì chuỗi công nghệ phôi đang trở thành giải pháp đột phá, cho phép rút ngắn đáng kể chu kỳ chọn lọc và nhân giống. Trên thế giới, công nghệ phôi in vitro (IVP) đã vượt mốc 2 triệu phôi, chiếm hơn 80% tổng số phôi sản xuất, cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt sang công nghệ này.
Tại Việt Nam, Tập đoàn TH là một trong những đơn vị tiên phong triển khai và làm chủ chuỗi công nghệ phôi ở quy mô công nghiệp, bao gồm khai thác noãn (OPU), thụ tinh trong ống nghiệm (IVP) và cấy truyền phôi (ET). Việc làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ giúp rút ngắn thời gian cải tiến di truyền, đồng thời nâng cao đáng kể chất lượng đàn bò sữa.
Đàn bò sữa chất lượng cao của Tập đoàn TH được chăm sóc tỉ mẩn, đúng quy trình. Ảnh: Ngọc Linh.
Kết quả thực tế giai đoạn 2022-2025 cho thấy hiệu quả rõ rệt của công nghệ này. Ở khâu khai thác noãn (OPU), năm 2025 ghi nhận mức trung bình 24 noãn mỗi bò, cao gấp đôi so với mức trung bình thế giới, phản ánh khả năng kiểm soát quy trình và quản trị chất lượng ở mức cao. Dù sản lượng tăng nhanh tạo áp lực lên chất lượng noãn, hệ thống đã được tối ưu về tần suất khai thác nhằm cân bằng giữa hiệu suất và chất lượng.
Ở khâu thụ tinh trong ống nghiệm (IVP), tỷ lệ thụ tinh đạt gần 89%, với trung bình 1,94 phôi nang mỗi bò, tương đương các tiêu chuẩn quốc tế. Đây là chỉ số quan trọng cho thấy hiệu quả của quy trình nuôi cấy và kiểm soát điều kiện phòng thí nghiệm.
Đáng chú ý, chất lượng phôi duy trì ở mức cao và ổn định qua các năm. Theo phân hạng của Hiệp hội Cấy truyền phôi quốc tế (IETS), tỷ lệ phôi đạt chuẩn (hạng 1 và 2) chiếm 86,2%, trong đó phôi hạng 1 luôn trên 50%. Trong khi đó, tỷ lệ phôi chất lượng thấp (hạng 3 và 4) được kiểm soát ở mức thấp, lần lượt khoảng 9,4% và 4,4%.
Tập đoàn TH là một trong những đơn vị tiên phong triển khai và làm chủ chuỗi công nghệ phôi ở quy mô công nghiệp, bao gồm khai thác noãn (OPU), thụ tinh trong ống nghiệm (IVP) và cấy truyền phôi (ET). Ảnh: Tùng Đinh.
Ở giai đoạn cấy truyền phôi (ET), hiệu quả cũng được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ đậu thai trung bình đạt khoảng 45%, riêng năm 2025 đạt gần 49%. Đáng chú ý, phôi tươi cho tỷ lệ đậu thai cao hơn, khoảng 48,5%, trong khi bò tơ đạt tới hơn 50%, phản ánh sự tiến bộ đồng thời về chất lượng phôi và tay nghề kỹ thuật viên.
Theo ông Trần Trung Mỹ, việc ứng dụng chuỗi công nghệ phôi không chỉ giúp tăng nhanh tiến bộ di truyền mà còn là chìa khóa để ngành bò sữa Việt Nam chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất trên từng cá thể, thay vì phụ thuộc vào mở rộng đàn.
“Công nghệ phôi cho phép chúng ta tạo ra nhiều cá thể ưu tú trong thời gian ngắn, từ đó rút ngắn đáng kể chu kỳ chọn lọc giống và nâng cao hiệu quả chăn nuôi,” ông nói.
Việc làm chủ công nghệ phôi ở quy mô công nghiệp, với các chỉ tiêu tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế, cũng cho thấy tiềm năng lớn của ngành chăn nuôi Việt Nam trong việc tiếp cận và ứng dụng các công nghệ sinh học tiên tiến.
Trong bối cảnh ngành sữa đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2045, công nghệ phôi được xem là một trong những giải pháp cốt lõi giúp nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của ngành trên thị trường quốc tế.
Giai đoạn 2022-2025, Tập đoàn TH ghi nhận nhiều chỉ số tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế trong ứng dụng chuỗi công nghệ phôi. Tổng cộng hơn 153.000 noãn đã được khai thác từ trên 10.000 lượt bò, với hiệu suất trung bình đạt từ 14,3 đến 24 noãn mỗi con, trong đó năm 2025 ghi nhận mức kỷ lục. Tỷ lệ thụ tinh đạt gần 89%, tạo ra trung bình 1,94 phôi nang mỗi bò. Đáng chú ý, tỷ lệ phôi chất lượng cao (hạng 1 và 2) chiếm tới 86,2%, trong khi tỷ lệ đậu thai duy trì ở mức 45-49%. Những kết quả này cho thấy doanh nghiệp đã làm chủ chuỗi công nghệ phôi ở quy mô công nghiệp, với hiệu quả tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế.
















