Lớp học nhỏ trên đỉnh núi
Những ngày cận Tết, tôi trở lại điểm trường Tà Chơ, xã Phình Hồ, tỉnh Lào Cai trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhất của mùa đông ở vùng cao. Mưa mù từ sáng đến đêm, sương ẩm đặc quánh phủ kín núi rừng, khiến quần áo lúc nào cũng ẩm lạnh. Con đường dẫn vào thôn Tà Chơ vốn đã khó, nay càng trở nên hiểm trở hơn với những đoạn dốc dựng đứng, khúc cua tay áo và nền đất trơn trượt.
Điểm trường Tà Chơ của cô giáo Cầm Thị Nho với 13 em nhỏ. Ảnh: Thanh Ngà.
Có những đoạn, ngay cả người dân địa phương cũng không dám đi xe máy mà phải xuống xe dắt bộ. Phía trước là sương mù che khuất lối đi, một bên là vách núi dựng, một bên là vực sâu hun hút, mỗi hành trình lên điểm trường là một cuộc thử thách.
Điểm trường Tà Chơ nằm khiêm tốn giữa thôn, đơn sơ và tĩnh lặng. Ở đây chỉ có một lớp học với vỏn vẹn 13 em nhỏ, từ 3 đến 5 tuổi. Không gian lớp học nhỏ hẹp, là nơi duy nhất gieo mầm chữ cho các em trong thôn. Nhìn các con, tôi nhận ra hình ảnh con mình thấp thoáng trong những gương mặt non nớt, ngây thơ, lớn lên giữa muôn vàn thiếu thốn.
Cô giáo Cầm Thị Nho nhiều năm gắn bó tại điểm trường. Ảnh: Thanh Ngà.
Tối hôm trước chuyến đi, tôi ngồi sắp lại tủ quần áo của các con. Áo khoác, áo len, quần nỉ, tất... những món đã chật với con mình, cả những món các con còn mặc được nhưng dôi dư. Gấp gọn gàng từng món, tôi mang theo với suy nghĩ đơn giản rằng có thể giúp các con ấm hơn trong cái lạnh cắt da của vùng cao. Lạ thay, khi trao cho các em, áo lớn áo bé đều vừa vặn như thể đã đo ni sẵn cho từng đứa trẻ nơi đây.
Trong lớp, có em được bố mẹ chăm chút, mặc áo ấm đầy đủ. Nhưng cũng có em chỉ mặc chiếc áo mỏng manh, có em chân trần tím tái vì rét, thậm chí có em không mặc quần. Vẫn biết đằng sau đó không hẳn do cái nghèo mà còn là thói quen sinh hoạt, là cách nghĩ đã ăn sâu của những người phụ nữ Mông nơi vùng cao, nơi cái lạnh dường như đã trở thành điều quen thuộc qua bao thế hệ, nhưng hình ảnh những đứa trẻ phong phanh chống chịu với cái lạnh cắt da cắt thịt khiến lòng người không khỏi chùng xuống xót xa.
Bếp lửa làm bạn xua cái lạnh vùng cao
Tối ấy, tôi ở lại điểm trường cùng cô giáo Cầm Thị Nho. Mùa này bóng tối ập xuống rất nhanh, bao trùm không gian. Cả thôn chỉ le lói vài ánh điện yếu ớt hắt ra giữa màn sương dày đặc.
Ở điểm trường, nguồn điện cũng chỉ là điện tự phát, vừa đủ cho lớp học và một bóng đèn nhỏ trong phòng nghỉ trưa của cô giáo và 13 đứa trẻ. Căn phòng chưa đầy 20 mét vuông, ánh sáng mờ mờ như ngọn đèn dầu ngày cũ, đủ để nhìn thấy nhau nhưng không đủ xua đi cảm giác lạnh lẽo của đêm vùng cao.
Thôn Tà Chơ chủ yếu là đồng bào Mông sinh sống. Ảnh: Thanh Ngà.
Cô giáo Nho kể, vì không phải điện lưới quốc gia nên mỗi khi sử dụng quá tải là xảy ra chập điện. Không thể bật cùng lúc nhiều bóng đèn và chỉ cần quá tải là cả điểm trường lẫn nhà trưởng thôn, nơi cho kéo điện nhờ đều mất điện. Những khu vực còn lại như bếp hay nhà vệ sinh hoàn toàn trông vào chiếc đèn pin cầm tay.
Trời lạnh buốt, muốn có nước ấm phải nhóm bếp củi để đun. Gian bếp tạm do phụ huynh dựng bằng các thanh gỗ ghép lại, không cửa, chỗ kín chỗ hở, gió lùa hun hút. Trong ánh lửa bập bùng, chúng tôi ngồi bên nhau, hơ đôi tay lạnh cóng bên bếp lửa, tìm chút hơi ấm để dễ đi vào giấc ngủ.
Cô giáo Cầm Thị Nho là người Thái, quê ở Sơn La, theo chồng về sinh sống tại xã Cát Thịnh, tỉnh Yên Bái, nay thuộc tỉnh Lào Cai. Cô gắn bó với nghề giáo vùng cao đã hơn chục năm. Ngày đầu nhận công tác tại điểm trường Tà Chơ, mọi thứ còn thiếu thốn hơn bây giờ rất nhiều: đường sá gian nan, điện lưới chưa có, điều kiện sinh hoạt vô cùng khắc nghiệt.
Giờ ăn cơm các con rất tự giác và tự lập từ rất sớm. Ảnh: Thanh Ngà.
Có những lúc, trò khóc vì lạ cô, cô cũng khóc theo vì bất đồng ngôn ngữ và bất lực trước hoàn cảnh. Học sinh đều là con em đồng bào Mông, tiếng Việt chưa thạo, còn cô thì lần đầu sống và dạy học giữa vùng cao heo hút. Trải qua nhiều năm, cô chuyển công tác qua nhiều điểm trường khác nhưng rồi vẫn quay trở lại Tà Chơ như một sự gắn bó không dứt với mảnh đất này.
Ước mơ giản dị của cô giáo vùng cao
Quãng đường từ nhà cô giáo đến điểm trường dài gần 40km. Thông thường, sáng thứ Hai cô lên trường, chiều thứ Sáu mới về nhà nếu thời tiết thuận lợi. Những đợt mưa kéo dài, sạt lở xảy ra, cô buộc phải đi sớm từ Chủ nhật, thậm chí có khi ở lại điểm trường cả nửa tháng không thể về nhà.
Những ngày mưa, đường trơn trượt, không ai đưa đón, chồng cũng không lên được, cô lặng lẽ đi bộ qua những con dốc cao, khúc cua nguy hiểm. Mỗi bước đi là một lần đánh cược với sự an toàn của chính mình nhưng cô vẫn kiên trì, bởi phía trước là lớp học nhỏ và những đứa trẻ đang chờ.
Cô giáo cùng phụ huynh giã bánh giầy, tổ chức Tết sớm cho các con. Ảnh: Thanh Ngà.
Sáng hôm ấy, gian bếp điểm trường đỏ lửa từ rất sớm. Cô giáo cùng mấy phụ huynh vo gạo, thổi xôi, giã bánh giầy. Tiếng chày đều đều vang vọng giữa núi rừng còn đẫm sương, báo hiệu một ngày đặc biệt, ngày học cuối cùng trước kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán.
Để các con được ăn Tết sớm, cô nhờ mỗi gia đình góp 2-3 cân gạo, nhà nào khá hơn thì góp nhiều hơn. Gạo được gom lại để giã bánh giầy, món bánh truyền thống không thể thiếu trong ngày Tết của người Mông, tượng trưng cho sự đủ đầy, ấm no và lời cầu chúc năm mới bình an.
Ở điểm trường, từ rất sớm, bố mẹ đã gửi con cho cô rồi vội vã lên nương. Nhiều em tự dắt nhau đến lớp, tự vệ sinh cá nhân, sớm hình thành tính tự lập. Mỗi em mang theo một hộp cơm nhỏ, bữa ăn thường chỉ là cơm trắng với chút cá khô hay nửa quả trứng. Em nào khá hơn thì có thêm vài miếng thịt, coi như bữa ăn đủ đầy hơn bạn bè.
Cô giáo tâm sự, thỉnh thoảng điểm trường được các đoàn thiện nguyện hỗ trợ ít mì tôm, bánh kẹo, cô cất cẩn thận để dành cho các con ăn dần. Cô vận động bố mẹ mang thêm rau để đến bữa cơm, cô nấu canh giúp các con dễ ăn hơn, hôm canh rau, hôm canh nấu với mì tôm.
Những món quà Tết giản dị là niềm vui nhỏ bé, là ký ức ấm áp của tuổi thơ vùng cao. Ảnh: Thanh Ngà.
Trưa ấy, tôi chứng kiến các con xúc cơm ăn ngon lành, bát canh rau cải nấu với mì tôm nóng ấm, thơm phức lôi cuốn khiến bạn nào cũng ăn uống rất tập trung. Có bạn ăn hết mì trước rồi mới ăn cơm. Có những em bé mới hơn 3 tuổi, tự tay cầm thìa xúc ăn ngon lành, không cần bón cũng chẳng phải ép. Tôi nghĩ đến các con tôi và những đứa trẻ miền xuôi, tầm tuổi này, nhiều đứa trẻ đang được bố mẹ bế ẵm chiều chuộng, còn đứa trẻ này... nước mắt tôi cứ thế trào ra, nghẹn ngào không nói được gì.
Buổi học cuối cùng trước Tết, cô mang hết bánh kẹo đã để dành chia cho từng em, kèm bánh giầy và sữa để các con mang về nhà. Chút niềm vui nhỏ bé ấy trở thành ký ức ấm áp cho tuổi thơ vùng cao.
Điều cô giáo Cầm Thị Nho mong mỏi hết sức bình thường: một con đường rộng hơn để có thể tự đi xe lên điểm trường, có điện lưới quốc gia để có ti vi phục vụ việc dạy và học của các cơn, một căn bếp kiên cố để nấu ăn cho các con trong mùa đông giá rét..., vậy mà đặt ở thôn Tà Chơ chênh vênh trên non cao, mong manh trong sương và mây mù, nó lại quá sức, lớn lao và khó khăn đến thế. Dường như đọc được những suy nghĩ trong tôi, cô Cầm Thị Nho thủ thỉ: "Xuân mới hy vọng mới. Mong sao xuân sau sẽ được đón nhà báo trên một con đường rộng hơn, mời nhà báo cùng ăn bữa cơm với cô trò được nấu trong căn bếp mới, ấm cúng vững chãi hơn". Tôi tin rồi mơ ước ấy sẽ thành hiên thực, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Nhưng dù có thế nào thì những người như cô Nho vẫn tiếp tục bám bản, bám trường, bền bỉ gieo chữ cho các em nhỏ.









![Đảo là nhà, biển cả là quê hương [Bài cuối] Xanh lên từ sỏi đá](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/02/23/img_0018-172911_334-142344.jpg)
![Đảo là nhà, biển cả là quê hương: [Bài 4] Người thầy mang quân hàm xanh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/02/22/img_0074-025431_20-092836.jpg)
![Nhặt ký ức xuân: [Bài cuối] Khoảng lặng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/02/20/6-nongnghiep-163124.jpg)

