Những ngày cuối Chạp, khi phố phường dưới xuôi đang cuồng quay trong cơn lốc của sắm sửa, của những thanh âm ồn ã, rộn rã, tôi trốn chạy. Một cuộc trốn chạy ngọt ngào để ngược dòng Lô, dòng Gâm, tìm về với Tuyên Quang.
Chiếc xe lao đi trong gió, bỏ lại sau lưng những hào nhoáng đô thị, để rồi khi cái lạnh se sắt của núi rừng phả vào mặt, tôi biết mình đã về. Xuân đang về, náo nức và tĩnh lặng, mâu thuẫn mà hòa hợp đến kỳ lạ. Đứng giữa đất trời Lâm Bình những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026, nghe tiếng gió hú qua khe núi, bao ký ức bỗng chốc ùa về, cuộn trào như dòng nước lũ năm nào, đánh thức những tầng trầm tích văn hóa và lịch sử của một vùng đất huyền thoại.
Cuộc “thiên di” vì dòng điện ngày mai
Lâm Bình - cái tên nghe vừa gợi sự bình yên của rừng già, vừa gợi cái uy nghi của núi đá. Nhưng để có một Lâm Bình rạng rỡ của ngày hôm nay, mảnh đất này đã phải oằn mình qua những cơn đau sinh nở của lịch sử, qua những cuộc chia ly để kiến tạo nên sự sống mới.
Ký ức của cả một thế hệ người Tày nơi này vẫn còn hằn sâu những ngày tháng trước khi Thủy điện Tuyên Quang - công trình trọng điểm quốc gia được khởi công.
Đó là những năm tháng mà thời gian ở đây dường như trôi chậm hơn dưới xuôi cả thế kỷ. Trước năm 2002, Lâm Bình chưa có tên trên bản đồ hành chính như một huyện hay một độc lập như ngày nay, mà nằm rải rác thuộc một số xã trong địa phận của huyện Na Hang và Chiêm Hóa cũ.
Một góc khu tái định cư thôn Bản Khiển, xã Lâm Bình. Ảnh: Tô Viết Hiệp.
Ngày ấy, con đường từ trung tâm xã Phúc Yên để ra Khuôn Hà, Thượng Lâm hay ra đến tận huyện lỵ Na Hang là một nỗi ám ảnh kinh hoàng. Đó không phải là đường, đó là những sợi dây thừng bằng đất nhão nhoét vắt vẻo qua sườn núi. Những ngày mưa lũ, đất đỏ dính chặt lấy bánh xe, trơn trượt như đổ mỡ. Giao thông chia cắt, bản làng cô lập, con người sống lầm lũi dưới bóng núi rừng, tách biệt hẳn với thế giới văn minh bên ngoài.
Ông Nguyễn Văn Mơ, sinh năm 1953, người đã từng trọn vẹn với những thăng trầm của mảnh đất này. Ngồi bên hiên nhà, đôi mắt nheo lại nhìn về phía xa xăm như cố xuyên thủng ký ức, ông kể: “Nhà ông xưa ở thôn Nà Lịch, xã Phúc Yên cũ. Nà Lịch ngày ấy là trung tâm, có Ủy ban, có trường học, trạm y tế, nơi tụ hội của cán bộ, giáo viên và học sinh. Mang tiếng là trung tâm, nhưng cái trung tâm ấy...”.
Người đàn ông bỏ lửng câu nói nặng nhọc một lúc rồi mới tiếp: "Ngày ấy không có điện lưới, không có sóng điện thoại như bây giờ đâu, nhiều người sinh ra, lớn lên, già đi rồi về với đất mẹ mà chưa từng biết cả thành phố Tuyên Quang nó tròn méo ra sao”.
"Xa xỉ" nhất của những gia đình khá giả ngày ấy là chiếc máy phát điện loại nhỏ (củ điện ngồi) đặt ngoài suối. Nhưng dòng suối đâu phải lúc nào cũng hiền hòa. Mưa xuống, rác rưởi quấn vào tuabin, điện lập lòe như ma trơi, lúc sáng lúc tối. Người ta phải đội mưa, lội suối giữa đêm để vớt rác, chỉ để đổi lấy chút ánh sáng vàng vọt hắt lên vách nứa, vách gỗ trong nhà. Tivi màu, điện thoại thông minh, hay khái niệm "điện lưới quốc gia" là những giấc mơ viển vông, xa xỉ đến mức không ai dám nghĩ tới.
Ông Mơ chắp tay, lâm râm khấn bài cúng mời tổ tiên về ăn Tết. Ảnh: Tú Thành.
Rồi lịch sử gõ cửa. Năm 2002, dự án Thủy điện Tuyên Quang khởi động. Đó là một mệnh lệnh của sự phát triển, nhưng cũng là một thử thách nghiệt ngã đối với lòng dân. Từ năm 2003, thông tin di dân lan về những thôn Nà Lịch, Bản Pin. Người Tày ở đây, bao đời nay bám rễ vào đất, vào rừng, coi mảnh đất chôn nhau cắt rốn là máu thịt. Nay nghe tin phải rời đi, về một vùng đất lạ lẫm tại xã Lăng Can để nhường chỗ cho lòng hồ thủy điện, cả bản làng xao xác.
Sự xáo trộn tâm lý là điều không thể tránh khỏi. Rời bỏ ngôi nhà cũ kỹ ám khói bếp, rời bỏ thửa ruộng bậc thang cha ông để lại, rời bỏ mồ mả tổ tiên… nỗi đau ấy không từ ngữ nào diễn tả hết. Nhưng, với tinh thần "Tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc", một cuộc vận động vĩ đại chưa từng có tiền lệ đã diễn ra.
Từ ngày 26/4/2002, Ban Di dân tái định cư được thành lập. Những cán bộ ngày ấy, vừa làm vừa học, vừa mò mẫm trong đêm tối của kinh nghiệm. Làm sao để thuyết phục người dân? Làm sao để họ tin rằng ra đi là để tốt hơn? Hàng trăm cán bộ huyện, tỉnh, những người am hiểu phong tục lúc bấy giờ đã thực hiện "ba cùng": cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Họ trở thành người con của bản, tỉ tê bên bếp lửa, giải thích từng chính sách, về tương lai.
Và rồi, cuộc di dân lịch sử ấy đã diễn ra như một dòng chảy không thể ngăn cản. Từ năm 2003 - 2006, hơn 4.000 hộ dân với hơn 2 vạn nhân khẩu đã rồng rắn gồng gánh nhau về miền đất hứa. Hàng nghìn thanh niên tình nguyện, bộ đội, công an đã kề vai sát cánh, giúp bà con tháo dỡ từng nếp nhà, vận chuyển từng bao thóc. Những giọt mồ hôi và cả những giọt nước mắt đã rơi xuống dọc đường di chuyển.
Ông Mơ nhớ lại ngày về Lăng Can (cũ). Toàn bộ dân thôn Nà Lịch chuyển về thôn Nà Mèn. Trước mắt họ là một bãi đất trống, đỏ au màu đất mới. Nhưng người Tày vốn kiên cường. Cùng với sự hỗ trợ công bằng, minh bạch của chính quyền, ruộng đất được chia lại, những ngôi nhà mới lại mọc lên. May mắn thay, người cũ người mới đều là anh em dân tộc Tày. Tiếng nói có thể khác chút luyến láy, ngữ điệu, nhưng cái tình, cái bụng thì giống nhau. Họ lại cùng nhau bắt tay vào tái thiết, biến vùng đất mới thành những bản làng trù phú.
Cú vặn mình lịch sử
Khi những cú sốc đầu tiên của cuộc di dân dần lắng xuống, cũng là lúc Lâm Bình bước vào một chương trình kiến tạo mới, mạnh mẽ và quyết liệt hơn. Ngày 26/2/2011, huyện Lâm Bình chính thức được thành lập theo Nghị quyết 07 của Chính phủ, trên cơ sở tách ra từ Na Hang và Chiêm Hóa. Trung tâm huyện lỵ đặt tại Lăng Can, nơi hội tụ của hơn 10 dân tộc anh em.
Lâm Bình ra đời trong muôn vàn gian khó. Xuất phát điểm thấp đến mức tưởng chừng không thể vực dậy. Một huyện nghèo nhất tỉnh với tỷ lệ hộ nghèo lên tới hơn 71%. Cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu đồng bộ. Người dân cần cù nhưng luẩn quẩn trong vòng quay của tập quán canh tác lạc hậu. Thu nhập bình quân đầu người chỉ vỏn vẹn 8,5 triệu đồng/năm. Đói nghèo như cái bóng đen ám ảnh từng nếp nhà.
Nhưng đó là chuyện của quá khứ. Giờ đây, đứng giữa trung tâm xã Lăng Can cũ nay đã là một phần của xã Lâm Bình mới, tôi chứng kiến một sự trỗi dậy diệu kỳ. Những con số thống kê cho thấy sự nỗ lực phi thường. Ba chương trình mục tiêu quốc gia: Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã như ba mũi tên chủ lực, phá tan tảng băng trì trệ.
Người dân Lâm Bình giờ đây nhắc lại chuyện xưa không phải để than nghèo kể khổ, mà để giáo dục con cháu về lòng biết ơn. Ảnh: Tú Thành.
Đặc biệt, giai đoạn 2021-2025, hơn 726 tỷ đồng từ Trung ương và nguồn đối ứng địa phương đã được đổ vào đây, để thắp sáng hy vọng. Hơn 124 km đường giao thông được rải nhựa, bê tông hóa phẳng lì, uốn lượn như những dải lụa mềm vắt qua sườn núi. 36 cây cầu kiên cố nối liền những bờ vui. Trường học, trạm y tế, chợ mới mọc lên khang trang.
Lâm Bình đã thực sự "thay da đổi thịt". Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 7,5% mỗi năm. Những sản phẩm OCOP mang hương vị núi rừng đã vươn xa khỏi bóng núi, lũy tre làng. Giáo dục, y tế được nâng cao, trẻ em suy dinh dưỡng giảm hẳn, tiếng ê a đánh vần vang lên rộn rã dưới những mái trường.
Và lịch sử lại một lần nữa gọi tên Lâm Bình trong một cuộc chuyển mình mới. Ngày 1/7/2025, xã Lâm Bình chính thức ra đời trên cơ sở sáp nhập Thị trấn Lăng Can, xã Phúc Yên và xã Xuân Lập. Những người dân Nà Lịch xưa kia di dân về Lăng Can, những người ở lại Phúc Yên, nay lại "gộp một nhà". Vòng tròn của lịch sử thật kỳ diệu, nó chia tách rồi lại hàn gắn, mở rộng để lớn mạnh hơn.
Xã Lâm Bình mới giờ đây rộng lớn, bao la với hơn 327 km2, ôm trọn trong lòng 22 thôn bản và hơn 12.000 con người. Một xã nhưng mang tầm vóc của một vùng động lực, nằm ngay cửa ngõ kết nối Tuyên Quang - Hà Giang cũ.
Bộ máy chính quyền mới được kiện toàn tinh gọn, hiệu quả. Đảng bộ xã với hơn 1.000 đảng viên đang trở thành hạt nhân lãnh đạo, chèo lái con thuyền Lâm Bình vươn ra biển lớn. Người dân Lâm Bình giờ đây nhắc lại chuyện xưa không phải để than nghèo kể khổ, mà để giáo dục con cháu về lòng biết ơn. Biết ơn Đảng, Nhà nước, và biết ơn chính sức mạnh nội sinh của cộng đồng đã làm nên một Lâm Bình rạng rỡ hôm nay.
Một miền văn hóa trong tấm áo gấm hoa
Gạt sang một bên những con số, những mốc son lịch sử, tôi thả hồn mình vào không khí những ngày Tết Bính Ngọ 2026. Tết ở vùng cao không ồn ào, xô bồ mà len lỏi, thấm đẫm vào từng giác quan, dịu dàng nhưng da diết.
Trở lại ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Mơ ở thôn Nà Mèn. Nắng chiều cuối đông vàng như mật ong rót xuống hiên nhà. Ông Mơ đang ngồi tỉ mẩn cắt từng tờ giấy màu để làm “chỉa chèn” (loại tiền vàng đặc trưng của người Tày).
Đôi bàn tay nhăn nheo nhưng khéo léo lạ thường. Ông Mơ móm mém bảo: "Ngày xưa các cụ bắt buộc phải dùng giấy đỏ, giấy vàng xịn. Giờ thì khác rồi, con cháu nó bảo vệ môi trường, tiết kiệm, mình tận dụng giấy màu, miễn là có cái tâm tốt. Tổ tiên chứng dám là ở cái lòng thành, chứ đâu phải ở mâm cao cỗ đầy hay vàng mã nhiều đâu cháu". Câu nói của ông chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc về sự tiếp biến văn hóa, giữ lề lối nhưng không hủ tục.
Ngoài những phiên chợ ngày Tết, không khí Tết thực sự bùng nổ ở những buổi "đụng lợn". Đó là một nét văn hóa đẹp đẽ, là sợi dây kết nối tình làng nghĩa xóm bền chặt hơn bất cứ thứ văn bản cam kết nào. Từ 5h30 sáng, khi sương mù còn đặc quánh, tiếng lợn kêu eng éc đã phá tan sự tĩnh lặng của núi rừng.
Những mẻ bánh được người dân chuẩn bị. Ảnh: Tú Thành.
Tại nhà ông Nguyễn Văn Lý, bếp lửa đã đỏ rực, nồi nước sôi sùng sục bốc hơi nghi ngút. Năm nay, ông Lũy đụng con lợn hơn một tạ. Con lợn đen trũi, nuôi thả rông cả năm trời, thịt chắc nịch. Ông Lý không bán hết, mà chia hai đùi cho hàng xóm, phần còn lại để con cháu sum vầy. Sau khi lợn được mổ xong, mâm cúng được dâng lên thần linh, tổ tiên như một bản báo cáo thành quả một năm lao động.
Hương thơm của các món ăn, của gia vị núi rừng lan tỏa. Mọi người quây quần bên mâm cơm, chén rượu ngô trong vắt được rót tràn. Tiếng chúc tụng, tiếng cười nói giòn tan xua đi cái lạnh giá.
Ông Nguyễn Đình Hiệu (sinh năm 1979), một người con của bản Tày thôn Nà Mèn, cũng vừa hỉ hả chở một đùi lợn về nhà vào sáng 29 Tết. Với ông Hiệu, đụng lợn không chỉ là chuyện miếng ăn, chuyện kinh tế, mà là chuyện của tình thân.
"Đụng lợn là để mình 'mời' người mình quý mến cùng ăn miếng thịt ngon", ông Hiệu chia sẻ.
Sự công bằng trong văn hóa đụng lợn của người Tày thật đáng nể. Con lợn được chia làm 4 đùi, rồi từ đó chia nhỏ tiếp. Ai cũng có phần, từ nạc, mỡ, xương đến miếng thủ, miếng tai. Không ai tị nạnh ai, tất cả đều vui vẻ.
Tại nhà ông Hiệu, bà Quan Thị Trang vợ ông và cô con gái đã chuẩn bị sẵn những thếp lá dong xanh mướt, những thau gạo nếp trắng ngần, căng tròn. Họ chờ thịt lợn về để gói bánh chưng lưng gù - thứ bánh biểu tượng cho sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ vùng cao, gù lưng đeo gùi lên nương rẫy.
Chiều 30 Tết, không khí thiêng liêng bao trùm lên khắp các bản làng xã Lâm Bình. Ảnh: Tú Thành.
Chiều 30 Tết, không khí thiêng liêng bao trùm lên khắp các bản làng. Tại gian thờ trang trọng nhất của ngôi nhà, ông Nguyễn Văn Mơ bày biện mâm ngũ quả, bánh trái tinh tươm. Cây nêu được dựng lên, trên đó gắn chiếc bánh chưng lưng gù cắt đôi và những dây tiền vàng “chỉa chèn” bay phấp phới trong gió xuân.
Ông Mơ chắp tay, lâm râm khấn bài cúng mời tổ tiên về ăn Tết. Trong bài khấn nôm na mà chân thành ấy, điều đầu tiên ông cầu xin không phải là tiền bạc, mà là sự bình an trong những chuyến đi. "Cầu cho con cháu đi đường đi sá, đi đến nơi về đến chốn, không gặp vận rủi...".
Lời khấn ấy làm tôi cay sống mũi. Phải rồi, với những người dân đã từng sống cả đời với những con đường trơn trượt, hiểm trở, với những cuộc di dân gian khổ, thì sự "đi đến nơi, về đến chốn" chính là hạnh phúc lớn lao nhất. Sau đó mới là cầu sức khỏe, cầu mùa màng bội thu.
Bên ngoài, sương chiều bảng lảng buông xuống thung lũng Lâm Bình. Khói lam chiều quyện với mùi thơm của bánh chưng rền lửa, mùi hương trầm ngan ngát, mùi rượu men lá nồng nàn tạo nên một thứ hương vị đặc biệt, hương vị của Tết, của quê hương, của sự đoàn viên.
Lâm Bình hôm nay không chỉ là một cái tên trên bản đồ hành chính. Nó là một cơ thể sống đang vươn mình mạnh mẽ, rũ bỏ lớp áo cũ kỹ của nghèo đói để khoác lên mình tấm áo gấm hoa của sự phát triển, nhưng bên trong vẫn giữ trọn vẹn "phần hồn" tinh túy, tao nhã của văn hóa các dân tộc. Xuân này, chim trời đã thực sự tự do tung cánh trên bầu trời Lâm Bình, và lòng người cũng phơi phới sắc xuân.
Một mùa xuân mới, mang theo khát vọng và niềm tin, đã thực sự về trên rẻo cao này.
![Đá Sa Huỳnh trên rừng dưới biển: [Kỳ cuối] Giữ đá - giữ tương lai](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/256w/files/hainv72/2026/05/07/1201-img_1778129742298_1778137790102-nongnghiep-141153.jpg)
![Đá Sa Huỳnh trên rừng dưới biển: [Kỳ 4] Đá ngăn đạn thù](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/256w/files/hainv72/2026/05/05/4321-gen-h-z7784197464863_bb83f5c723b64f7425d01a9a677ec9a9-nongnghiep-214259.jpg)
![Đá Sa Huỳnh trên rừng dưới biển: [Kỳ cuối] Giữ đá - giữ tương lai](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/05/07/1201-img_1778129742298_1778137790102-nongnghiep-141153.jpg)
![Đá Sa Huỳnh trên rừng dưới biển: [Kỳ 4] Đá ngăn đạn thù](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/05/05/4321-gen-h-z7784197464863_bb83f5c723b64f7425d01a9a677ec9a9-nongnghiep-214259.jpg)

![Đá Sa Huỳnh trên rừng dưới biển: [Kỳ 3] Linh thiêng đá](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/05/05/da-sa-huynh-tren-rung-duoi-bien-ky-3-linh-thieng-da-111049_414-111050.jpg)
![Đá Sa Huỳnh trên rừng dưới biển: [Kỳ 2] Thông điệp của tiền nhân](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/05/04/3551-thong-diep-2jpg-nongnghiep-053538.jpg)
![Đá Sa Huỳnh trên rừng dưới biển: [Kỳ 1] Tạo hóa diệu kỳ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/05/03/0425-tao-hoa-1jpg-nongnghiep-120418.jpg)








