Những tiếng kêu cứu giữa rừng xanh
Vườn Quốc gia Cát Tiên trải dài hơn 71.000 ha thuộc Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, là một trong những hệ sinh thái rừng tiêu biểu nhất Việt Nam. Khu vực này ghi nhận có hơn 1.500 loài động vật, trong đó 113 loài nguy cấp và 43 loài có nguy cơ tuyệt chủng toàn cầu.
Vườn Quốc gia Cát Tiên - Khu Dự trữ sinh quyển thế giới. Ảnh: Minh Sáng.
Với giá trị đặc biệt, Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới và năm 2024 trở thành Vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam được IUCN ghi danh vào Danh lục Xanh. Tuy nhiên, đằng sau sự trù phú ấy, tình trạng săn bắt, đặt bẫy và mua bán động vật hoang dã vẫn âm thầm diễn ra. Những chiếc bẫy thòng lọng, bẫy kẹp, súng tự chế hay bộ kích điện vẫn len lỏi cài cắm trong từng góc rừng, đe dọa sự sống của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm. Không ít trường hợp kiểm lâm chỉ kịp tìm thấy xác thú rừng trong bẫy khi mọi chuyện đã quá muộn.
Có ý kiến cho rằng, cần phải làm cho người ta biết sợ bằng luật và cũng phải làm cho người ta biết thương bằng lòng từ tâm. Quan niệm ‘ăn thịt thú rừng là sang’ hay dùng cao từ động vật để thể hiện đẳng cấp chính là gốc rễ dẫn tới sự săn bắt tàn phá nguồn động vật hoang dã.
Theo Trung tâm Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm (ĐHQG TP.HCM), việc tiêu thụ động vật hoang dã cũng tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh lớn, vì từ chuỗi giết mổ, vận chuyển, chế biến thú rừng đều không đảm bảo vệ sinh. Các loài động vật hoang dã có thể mang mầm bệnh nguy hiểm lây sang người.
Nhiều nghiên cứu tại Trung Quốc, Thái Lan cho thấy, thịt rùa hoang dã chứa hàm lượng kim loại nặng cao; vảy tê tê hoàn toàn không có hoạt chất chữa bệnh. Với bất cứ tiếp xúc nào với máu, dịch tiết hay khí dung của động vật đều có thể truyền virus, vi khuẩn nguy hiểm. Do đó, nếu không chấm dứt vấn nạn tiêu thụ thú rừng thì nguy cơ về một đại dịch mới rất có thể sẽ xảy ra.
Dù vậy, công tác quản lý và thực thi pháp luật hiện vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, do địa bàn rộng, lực lượng mỏng, các đối tượng vi phạm ngày càng tinh vi và thường sử dụng mạng xã hội để giao dịch. Những vụ vi phạm thường nhỏ lẻ nhưng rất manh động, các đối tượng lợi dụng đêm khuya hoặc rừng sâu để đặt bẫy, gây nguy hiểm cho cả người dân và lực lượng làm nhiệm vụ.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Ánh Hồng (Trưởng Bộ môn Luật Hình sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) cho rằng: “Nếu không có nhu cầu sử dụng sẽ không có khai thác đồng vật hoang dã trái phép. Việc tiêu thụ thịt rừng, mật gấu, cao hổ… vẫn đang xảy ra phổ biến trên thị trường chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới tội phạm về động vật hoang dã”.
Theo bà Hồng, nhiều người tin rằng các sản phẩm từ động vật hoang dã có giá trị dinh dưỡng, chữa bệnh hoặc thể hiện đẳng cấp. Đây là quan niệm sai lầm đã tồn tại lâu đời và rất khó thay đổi. Vì vậy, cùng với xử lý nghiêm, công tác tuyên truyền, giáo dục thay đổi hành vi phải được chú trọng, đặc biệt tại cộng đồng dân cư vùng đệm và trong thế hệ trẻ.
Không để rừng xanh chỉ còn trong ký ức
Những năm gần đây, công tác bảo tồn ghi nhận những tín hiệu tích cực, nhiều loài quý hiếm được phục hồi; đàn voi ở Cát Tiên được giám sát bằng bẫy ảnh; các trung tâm cứu hộ gấu, linh trưởng liên tục tiếp nhận, phục hồi, được tái thả cá thể về rừng. Tuy nhiên, thách thức còn rất lớn khi vấn nạn săn bắt nhỏ lẻ vẫn xảy ra, bẫy thú rừng đặt rải rác trong rừng, việc tiêu thụ động vật hoang dã qua mạng xã hội gia tăng, ý thức một bộ phận người dân còn thấp.
Trước bối cảnh đó, mới đây tỉnh Đồng Nai đã tổ chức phát động chuỗi hoạt động “Đồng Nai nói không với sử dụng động vật hoang dã trái phép”, nhằm tăng cường thực thi pháp luật, tuần tra liên ngành, tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, đặc biệt tại các xã vùng đệm, trường học. Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Đồng Nai Ngô Văn Vinh nhấn mạnh: “Tại các xã vùng đệm, các câu lạc bộ Xanh, nhóm tuyên truyền viên cộng đồng được thành lập nhằm vận động người dân không săn bắt, không tiêu thụ và không tiếp tay cho việc mua bán động vật hoang dã”.
Các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng trong bảo vệ động vật hoang dã và đa dạng sinh học diễn ra thường xuyên tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. Ảnh: Minh Sáng.
Theo ông Vinh, việc bảo tồn không thể tách rời với sinh kế người dân, do vậy tăng cường các mô hình phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng vùng đệm sẽ thì người dân sẽ không còn nhu cầu săn bắt.
Học sinh cần phải được giáo dục tình yêu thiên nhiên, hiểu rõ hậu quả của việc giết hại động vật hoang dã. Các cơ sở ăn uống, quán nhậu cũng phải bị giám sát chặt, xử phạt nghiêm nếu kinh doanh thịt rừng. Các chương trình chuyển đổi số cần được đẩy mạnh để truy xuất nguồn gốc, loại bỏ thị trường chợ đen.
Nếu không hành động quyết liệt, nhiều loài khác ở Việt Nam cũng có thể chung số phận. Động vật hoang dã không chỉ là nguồn gen quý mà còn là “hệ thống cảnh báo” của rừng, mất động vật hoang dã cũng đồng nghĩa mất rừng; mất sinh kế, mất nguồn nước, mất phòng hộ đầu nguồn, mất cân bằng sinh thái và đối mặt nguy cơ dịch bệnh.
Bảo vệ động vật hoang dã không chỉ là trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Mỗi người dân cần hiểu rằng đằng sau một miếng thịt thú rừng là sự hủy diệt cả một hệ sinh thái; đằng sau một chiếc bẫy đặt trong rừng là nguy cơ giết chết tương lai đa dạng sinh học.
Lực lượng kiểm lâm Cát Tiên phối hợp với các đơn vị chức năng thu giữ tang vật săn bắt động vật hoang dã. Ảnh: Minh Sáng.
Pháp luật cần đủ mạnh để đủ sức răn đe, người dân cũng phải đủ hiểu để từ bỏ thói quen gây hại. Cộng đồng phải yêu rừng, không rừng xanh chỉ còn trong ký ức của mỗi con người. Bảo vệ động vật hoang dã là bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và bảo vệ chính tương lai của chúng ta…
Đồng Nai là địa phương sở hữu hệ sinh thái rừng đặc sắc nhất cả nước với nhiều khu rừng tự nhiên lớn như: Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, rừng phòng hộ Xuân Lộc, Tân Phú, Long Thành, Núi Chứa Chan. Đây cũng là nơi sinh sống của voi châu Á, chà vá chân đen, gấu chó… những loài đặc hữu có giá trị cao trong bảo tồn.





























