Căn phòng nhỏ của ông Trần Bạch Giang, nguyên Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam (nay là Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) như một kho lưu giữ ký ức. Trên giá gỗ, hàng chục tấm bản đồ được xếp ngay ngắn, mỗi tấm dán nhãn một vùng đất, một năm tháng. Bàn tay người cán bộ từ tốn mở tấm bản đồ đã ngả màu thời gian. Giấy đã sờn, mực đã nhạt, nhưng từng đường nét, từng tọa độ vẫn hiện rõ, ký ức những ngày ông cùng đồng đội “đo từng tấc đất, dựng hình đất nước" chợt trở về.
Cơ duyên đặc biệt
“Ngày ấy, tôi chưa từng nghĩ mình sẽ gắn bó cả đời với ngành đo đạc và bản đồ. Giữa những năm 1960, khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, mơ ước của tôi là vào quân ngũ nhưng tôi lại được Nhà nước cử sang Bulgari học chuyên ngành Trắc địa - Bản đồ. Thời đó, kể cả việc lựa chọn ngành học cũng không phải để mưu cầu cá nhân mà chỉ có một mục đích duy nhất là được phục vụ Tổ quốc. Trước sự phân công ấy, tôi đắn đo mãi rồi tự hỏi lòng mình và tự trả lời: "Tổ quốc cần ta làm gì thì ta làm việc đó. Ở đâu thiếu người ở đó có bước chân thanh niên. Chúng tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ học tập và trở về cống hiến cho Tổ quốc".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh lưu niệm cùng cán bộ Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập (14/12/1959-12/12/1989). Ảnh: Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam.
Tốt nghiệp, ông trở về, nhận nhiệm vụ tại một đơn vị của Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước. Một công việc thiên về nghiên cứu kỹ thuật, khá tĩnh, ít người biết đến, và đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn. Hơn hết, đó cũng là công việc thử thách sự kiên định, bản lĩnh vững vàng và tinh thần trách nhiệm với non sông gấm vóc thiêng liêng. Bởi thời ấy, từng tấm bản đồ, từng mốc tọa độ được ông và đồng đội dựng nên đều phục vụ trực tiếp cho công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam thống nhất.
Cũng bởi thấm nhuần tư tưởng ấy nên mỗi chuyến ra hiện trường, giữa núi cao, rừng sâu, dọc những dòng sông hay bên cột mốc biên giới, ông cảm thấy như được chạm vào “hình hài” của đất nước ở những vị trí đặc biệt. Với ông, từng đường biên, từng tọa độ không phải là những con số vô cảm, mà là máu thịt, là lịch sử, là niềm kiêu hãnh được trao truyền từ bao thế hệ cha anh. Cứ thế, từ một cơ duyên ban đầu, tình yêu nghề, lòng tự hào và ý thức phục vụ Tổ quốc đã trở thành sợi chỉ đỏ dẫn lối, để ông gắn bó trọn đời với sứ mệnh thầm lặng nhưng rất đỗi thiêng liêng: Đo từng tấc đất, dựng hình đất nước.
Bản đồ - Chứng nhân lịch sử
Trong hơn nửa thế kỷ gắn bó với ngành đo đạc và bản đồ, từng “chứng nhân lịch sử” được ông nâng niu trong sự xúc động và niềm kiêu hãnh. Với ông, những tấm bản đồ đó không chỉ là những bản vẽ kỹ thuật phục vụ quốc phòng hay quy hoạch kinh tế - xã hội; mà còn là những trang sử bằng nét mực và tọa độ, ghi lại dấu ấn của cả một thời kỳ dựng xây và bảo vệ non sông.

Những người làm công tác đo đạc bản đồ phải băng rừng, vượt núi, lội suối, ra tận biển đảo… để ghi lại từng tọa độ, từng đường biên. Ảnh: Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam.
Ông nhớ, những năm 1970, đặc biệt là sau 1975 - đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, ngành đo đạc và bản đồ bắt đầu được giao những nhiệm vụ tầm vóc quốc gia. Điển hình là đo đạc, lập bản đồ cho dự án thủy điện Hòa Bình – công trình được coi là “trái tim điện lực” của Việt Nam thời bấy giờ. Những tấm bản đồ địa hình tỉ mỉ từng đường nét đã giúp các kỹ sư xác định vị trí, cao độ, dòng chảy, nền móng… đảm bảo sự an toàn và bền vững cho công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á lúc ấy.
Sau thủy điện Hòa Bình là hàng loạt dự án trọng điểm khác: thủy điện Trị An, thủy điện Ialy, thủy điện A Lưới… trải dài từ miền núi Tây Bắc, Tây Nguyên đến dải đất miền Trung nắng gió. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt gian khổ: băng rừng, vượt suối, ngủ lán tạm giữa mưa gió, đo đạc bằng những chiếc máy quang học, thước thép hay máy kinh vĩ cũ kỹ. “Sai một ly, đi một dặm”, ông vẫn luôn nhắc mình như thế trong công việc, bởi một sai số nhỏ cũng có thể làm chệch hướng cả công trình.
Nhờ được đào tạo bài bản ở trong nước ngoài và nghiên cứu ứng dụng trong công tác, kỹ sư Trần Bạch Giang sớm tiếp cận công nghệ tiên tiến của thế giới. Thời đó, ông đã thành thạo phương pháp đo bằng vệ tinh DOPPLER, đo dài bằng laser, công nghệ GPS. Cũng chính ông là một trong những người tiên phong đưa kỹ thuật hiện đại vào đo đạc Việt Nam, nâng cao độ chính xác, tạo nền tảng cho hệ tọa độ quốc gia.
Giữa biển khơi, người đo đạc trở thành “hoa tiêu” dẫn đường
Bước ngoặt lớn nhất sự nghiệp của ông đến vào đầu tháng 3 năm 1988 - thời điểm lịch sử đầy sóng gió trên Biển Đông. ông Trần Bạch Giang được chọn vào đoàn công tác đặc biệt ra Trường Sa, mang theo máy đo Doppler vệ tinh - thiết bị hiện đại nhất lúc bấy giờ để đo nối tọa độ với đất liền và phục vụ xác định chủ quyền của Quần đảo Trường Sa.

Tổ đo DOPPLER vệ tinh đảo Trường Sa và thủy thủ tàu hoàn thành chuyến công tác, về đến cảng Cam Ranh đúng ngày 14/3/1988. (Ông Trần Bạch Giang - đứng thứ 4 từ trái sang, hàng trên). Ảnh: Ông Trần Bạch Giang cung cấp.
Xuất phát từ Cam Ranh, đoàn lên tàu huấn luyện của Trường Hải quân Nha Trang, mang theo máy móc, thiết bị… để xác định toạ độ điểm trên đảo Trường Sa Lớn. Sóng yên nhưng lòng người vẫn căng như dây đàn. Ngày ấy, liên lạc khó khăn, thiết bị hoa tiêu dẫn đường trên tàu cũ kỹ và thô sơ, mà hành trình đến đảo lại được giữ bí mật tuyệt đối vì yếu tố quân sự.
Đi suốt một đêm, đến trưa hôm sau, Trần Bạch Giang nhận thấy có sự nhốn nháo khác thường trên boong tàu. Hỏi ra mới biết, con tàu đã đi chệch hướng đảo khá xa. Thuyền trưởng - khi ấy còn rất trẻ, tỏ ra bối rối. Cách duy nhất, theo thuyền trưởng, là “rà đường” theo kiểu chạy vòng, nếu không sẽ phải quay về.
Giữa lúc ấy, Trần Bạch Giang - người kỹ thuật viên mang theo thiết bị DOPPLER hiểu rằng mình không thể để nhiệm vụ thất bại. Ngay lập tức, ông lắp máy, chờ gần 30 phút để thu tín hiệu vệ tinh và xác định lại tọa độ. Khi chấm vị trí hiện lên hải đồ, ông giật mình: con tàu đã đi chếch ra gần phía Philippines, cách mục tiêu hàng chục hải lý.
Bình tĩnh, ông nói với thuyền trưởng: “Cứ chạy theo hướng ngược lại, tôi sẽ dẫn đường”. Thao tác tiếp theo là ông kiểm tra cả la bàn trên boong và trong buồng máy, phát hiện chênh lệch rất lớn - một sai số đủ để đưa tàu đi lạc hàng chục cây số trên biển. Suốt nhiều giờ sau đó, cứ 30 phút ông lại xác định tọa độ một lần, điều chỉnh hướng đi. Cuối cùng, khoảng 5 giờ chiều, từ xa thấp thoáng hiện lên đảo mục tiêu với chòi gác cao. Cả đoàn thở phào.
Nhưng thử thách chưa dừng lại. Tàu không thể cập sát vì sóng lớn và rạn đá bao quanh. Trần Bạch Giang bàn với thuyền trưởng hạ xuồng cao su, ông cùng một sĩ quan hải quân quyết định chèo vào đảo. Vật lộn với những con sóng đánh dữ dội, cuối cùng, họ cũng lên được đảo. Sau khi báo cáo tình hình, ông đề nghị đưa thêm người và thiết bị từ tàu vào đảo để kịp thời triển khai nhiệm vụ.
Những ngày sau đó, trên đảo, ông cùng đồng đội dựng máy, thu tín hiệu vệ tinh, đo chính xác tọa độ phục vụ xây dựng cơ sở, bảo vệ chủ quyền. Sau khi đo điểm trên đảo Trường Sa Lớn đoàn của ông được tàu hải quân đưa đến đảo ngầm Đá Lát để chờ tàu đưa về đất liền. Trong lúc chờ đợi đoàn đặt máy trên nhà chòi đo, xác định thêm một điểm trên đảo ngầm Đá Lát. Trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng hoạt động quanh Gạc Ma, mỗi phút đo đạc đều là một phút chạy đua với thời gian, với cả hiểm nguy rình rập.

"Chòi" trên đảo Đá Lát (đảo chìm) nơi tổ đo thêm một điểm dopler vệ tinh (trong những ngày chờ đợi). Ảnh: Ông Trần Bạch Giang cung cấp.
Hành trình ấy không chỉ là một kỷ niệm nghề nghiệp, mà còn là minh chứng sống động cho ý chí, bản lĩnh của người làm công tác đo đạc, bản đồ. Dù giữa trùng khơi, đối mặt sóng dữ hay nguy cơ xung đột, họ vẫn phải luôn tự tin và sáng suốt, tìm đúng đường, dẫn dắt đồng đội đến đích. Ông nói: “Tôi luôn xác định phải biết mình đang ở vị trí nào và sẽ đi đến đâu”. Câu nói ấy đến nay vẫn như một tuyên ngôn của những người làm công tác đo đạc, bản đồ.
Từ bản đồ giấy đến bản đồ số
Những ngày đầu vào nghề, công tác đo đạc phụ thuộc hoàn toàn vào sức người và những thiết bị cơ học cồng kềnh. Người làm bản đồ phải băng rừng, vượt núi, lội suối, ra tận biển đảo… để ghi lại từng tọa độ, từng đường biên. Tấm bản đồ lúc ấy không chỉ là sản phẩm kỹ thuật mà trong đó chất chứa ý chí kiên cường và mồ hôi, thậm chí, đôi khi phải đánh đổi bằng máu vì tính chất hiểm nguy của công việc.

Ông Trần Bạch Giang, nguyên Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Đến giờ, ông vẫn nhớ như in những buổi đo đạc ngoài thực địa, khi mọi số liệu đều phải kiểm tra tới lui nhiều lần, bởi “Dữ liệu bản đồ là dữ liệu gốc. Từ đó, mọi ngành khác mới có cơ sở để xây dựng kế hoạch. Chỉ một sai sót nhỏ có thể khiến toàn bộ kết quả trở nên vô nghĩa, hệ lụy khi ấy sẽ rất lớn”.
Ngày nay, công nghệ số đã tạo nên một cuộc cách mạng trong ngành. Máy bay không người lái (UAV), ảnh viễn thám từ vệ tinh, hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GNSS) và các phần mềm GIS hiện đại đã rút ngắn thời gian đo đạc từ hàng tháng xuống chỉ còn vài giờ, nâng độ chính xác lên mức gần như tuyệt đối và cho phép cập nhật dữ liệu gần theo thời gian thực. Đằng sau sự “thần tốc” đó là cả một hệ thống hạ tầng công nghệ hiện đại, là trí tuệ của đội ngũ kỹ sư trẻ – những người tiếp nối và làm rạng danh nghề đo đạc bản đồ.
Nhìn lớp trẻ hôm nay chỉ cần vài cú nhấp chuột đã có trong tay bản đồ 3D chi tiết, người kỹ sư tóc đã bạc trắng vì thời gian vừa mừng cho sự tiến bộ của ngành, vừa bồi hồi nhớ lại những tháng năm cơ cực mà ông và đồng nghiệp đã trải qua.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh: Công nghệ có thể thay đổi phương thức, nhưng giá trị cốt lõi của nghề đo đạc bản đồ vẫn không đổi, đó là tính chính xác, sự trung thực và tinh thần trách nhiệm tuyệt đối với Tổ quốc. Mỗi sản phẩm bản đồ, dù in trên giấy hay hiển thị trên màn hình số, đều phải đạt độ chuẩn xác tuyệt đối, bởi đó không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là danh dự và niềm kiêu hãnh nghề nghiệp của người “vẽ dáng hình” đất nước.

Tấm bản đồ không chỉ là sản phẩm kỹ thuật mà còn chứa cả hơi thở, mồ hôi và ý chí kiên cường của những con người bền bỉ, kiên nhẫn, đôi khi phải đánh đổi bằng máu vì hiểm nguy. Ảnh: Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam.
Khi đảm nhận cương vị Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, và sau này trên cương vị Chủ tịch Hội Trắc địa, Bản đồ và Viễn thám Việt Nam, một trong những nhiệm vụ mà ông Giang đặc biệt tâm huyết là công tác chuẩn hóa địa danh trên bản đồ quốc gia. Đây không chỉ là yêu cầu về mặt khoa học nhằm bảo đảm tính thống nhất, chính xác trong hệ thống dữ liệu bản đồ, mà còn là nhiệm vụ mang ý nghĩa văn hóa - xã hội sâu sắc.
Bởi lẽ, mỗi địa danh không đơn thuần là một ký hiệu ngôn ngữ, mà còn hàm chứa ký ức lịch sử, bản sắc văn hóa và đặc trưng của từng vùng đất. Việc chuẩn hóa, ghi chép đúng tên gọi các làng quê, dòng sông, ngọn núi hay hòn đảo chính là cách thức bảo tồn giá trị tinh thần đã trở thành biểu tượng của cộng đồng địa phương và của cả dân tộc.
Do vậy, mỗi sản phẩm bản đồ, dù là bản đồ giấy in đậm dấu ấn thời gian hay bản đồ số hiện đại trên nền tảng công nghệ cao, đều mang trong mình sự kết hợp hài hòa giữa cơ sở khoa học chính xác, giá trị văn hóa, lịch sử và trách nhiệm quốc gia.
Nỗi trăn trở khi rời nhiệm sở
Dù đã nghỉ hưu, ông vẫn dõi theo từng bước tiến của ngành. Ông lo lắng khi thấy nhiều nhân lực trẻ tuy giỏi công nghệ nhưng chưa có nhiều trải nghiệm thực địa, chưa thấm hết sự gian nan của nghề. “Bản đồ không chỉ là dữ liệu trong máy tính, mà là kết quả của quá trình lao động miệt mài, của đôi chân đi khắp rừng sâu, núi cao, biển đảo”, ông nhắc nhở.

Ngày nay, công nghệ số đã tạo nên một cuộc cách mạng trong ngành đo đạc và bản đồ. Ảnh: Minh Hoàng.
Ông cũng mong ngành tiếp tục đầu tư chiều sâu cho công tác đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là những người trẻ đam mê nghề và sẵn sàng dấn thân cho những chuyến đi thực địa gian khó. Theo ông, truyền thống và công nghệ phải song hành, bởi chỉ khi kinh nghiệm quý báu của thế hệ đi trước được truyền lại, hòa quyện với sức sáng tạo và công cụ hiện đại của thời đại số, bản đồ Việt Nam mới đạt chuẩn quốc tế, giữ vững giá trị pháp lý, lịch sử và khẳng định chủ quyền quốc gia. Đó cũng là cách để ngành không chỉ “theo kịp” mà còn tiến cùng nhịp phát triển của thế giới, đồng thời lưu giữ được linh hồn và câu chuyện của từng tấc đất quê hương.