Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định về tổ hợp tác nhằm thay thế Nghị định số 77/2019/NĐ-CP để đảm bảo phù hợp, đồng bộ với Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo đó, tổ hợp tác (THT) là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác do ít nhất 2 cá nhân, pháp nhân tự nguyện thành lập, cùng góp vốn, góp sức lao động để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.
Để khắc phục tình trạng chồng chéo với Nghị định số 113/2024/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã, Bộ Tài chính đề xuất các nội dung đặc thù của THT được chuyển từ Nghị định số 113/2024/NĐ-CP sang Nghị định này; các nội dung áp dụng chung (như chính sách hỗ trợ, xử lý tài sản từ các nguồn hỗ trợ…) sẽ được dẫn chiếu theo quy định tại Nghị định số 113/2024/NĐ-CP.
Tổ hợp tác là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác do ít nhất 2 cá nhân, pháp nhân tự nguyện thành lập. Ảnh minh họa.
Dự thảo đề xuất phân định rõ 2 loại hình THT thuộc đối tượng phải đăng ký và THT không đăng ký. Tương ứng với từng loại hình, dự thảo quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thành lập, hoạt động, tạm ngừng và chấm dứt hoạt động.
Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, dự thảo Nghị định bãi bỏ quy định THT phải gửi báo cáo bằng văn bản tới Ủy ban nhân dân cấp xã; tay vào đó, bổ sung cơ chế cập nhật thông tin trực tuyến thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về hợp tác xã.
Cơ quan đăng ký kinh doanh tại địa phương thực hiện chế độ báo cáo thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về hợp tác xã hiện hành của cơ quan hành chính nhà nước dựa trên dữ liệu đã được cập nhật trực tuyến từ THT. Điều này giúp giảm áp lực hành chính cho chính quyền cơ sở trong việc thu thập, xử lý số liệu thủ công; đảm bảo tính kịp thời, chính xác và thống nhất của dữ liệu quản lý từ trung ương đến địa phương.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định bổ sung quy định về việc thu thập, cập nhật và lưu trữ thông tin định danh của các thành viên THT có tỷ lệ vốn góp từ 25% trở lên (người có quyền chi phối đáng kể) trong thời hạn tối thiểu 5 năm kể từ khi chấm dứt hoạt động. Quy định này đảm bảo sự thống nhất với Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15, dự kiến Kế hoạch hành động quốc gia để thực hiện nghĩa vụ của Chính phủ Việt Nam về trao đổi thông tin theo yêu cầu về mục đích thuế nhằm đáp ứng các khuyến nghị quốc tế.
Ngoài ra, dự thảo đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các thuật ngữ pháp lý nhằm bảo đảm phản ánh đầy đủ, chính xác nội dung cần truyền tải, đồng thời bảo đảm tính rõ ràng, thống nhất và dễ áp dụng trong thực tiễn; sử dụng thống nhất thuật ngữ "quy định của hợp đồng hợp tác" thay cho nội dung, ghi trong hợp đồng hợp tác để đảm bảo tính chuẩn xác và hiệu lực pháp lý cao hơn. Bổ sung "số định danh" và "số giấy tờ pháp lý" trong quy định về nội dung hợp đồng hợp tác, để đảm bảo nhận diện thành viên THT rõ ràng hơn.
Dự thảo đang được lấy ý kiến góp ý trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính đến trước ngày 23/5/2026.

















