Chân dung Đạm Phương Nữ Sử (1881-1947) đã nhiều lần được khẳng định như một nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ 20. Tên tuổi Đạm Phương Nữ Sử thường được nhắc đến cùng với Sương Nguyệt Anh (1864-1921) và Nguyễn Thị Manh Manh (1914-2005) như những nhân vật nữ xuất sắc có công khai sáng nữ quyền ở nước ta.
Tọa đàm diễn ra sáng 6/3 tại TP.HCM.
Đạm Phương Nữ Sử tên thật là Công Nữ Đồng Canh. Bà là cháu nội của vua Minh Mạng, và là con gái của Hoằng Hóa quận vương Nguyễn Phúc Miên Triện. Năm 20 tuổi, Đạm Phương Nữ Sử chính thức được mời dạy học cho các công chúa và cung nữ triều đình Huế. Nổi tiếng hay chữ, nhưng mãi đến năm 31 tuổi thì Đạm Phương Nữ Sử mới có bài báo đầu tiên trên tạp chí Nam Phong. Vì sao như vậy?
Tại buổi tọa đàm “Nhìn lại một nữ trí thức đầu thế kỷ 20” do Nhà xuất bản Phụ Nữ tổ chức, tác giả Nguyễn Thị Bích Hậu là người đã viết cuốn sách tiểu sử “Đạm Phương nàng Công Nữ buổi giao thời”, chia sẻ: “Lấy chồng từ năm 16 tuổi và sinh liên tục 6 người con, nên thời thanh xuân của bà Công Nữ Đồng Canh chủ yếu dành cho gia đình. Tên gọi Đạm Phương Nữ Sử được xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 3/1918 trong bài bút ký “Mười ngày ở Huế” của Phạm Quỳnh (1892-1945). Chính sự tán thưởng và cổ vũ của Phạm Quỳnh đã thúc giục Đạm Phương Nữ Sử dấn thân vào hoạt động cộng đồng”.
Ở góc độ khác, chân dung Đạm Phương Nữ Sử được nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền phác thảo: “Công Nữ Đồng Canh tuy sinh ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, cai trị nhưng con vua, cháu chúa vẫn được hưởng đặc quyền, đặc lợi và thừa hưởng truyền thống văn học, giáo dục tốt đẹp của hoàng tộc. Nhờ vậy mà cả thời niên thiếu Công Nữ Đồng Canh được dưỡng dục, học hành nghiêm túc cả Hán văn, Pháp văn, chữ Quốc ngữ và học cả cầm kỳ thi họa, thêu thùa, cắt may, nấu nướng. Đó là những kiến thức cơ bản sau này chung đúc thành vốn văn hóa vững chắc cho Công Nữ Đồng Canh khi lớn lên vào đời bằng thực lực của chính mình”.
Cuốn sách phác họa chân dung Đạm Phương Nữ Sử. Ảnh: TL
Không chỉ phô diễn tài năng chữ nghĩa, chân dung Đạm Phương Nữ Sử còn thể hiện rõ hơn ở việc thành lập “Nữ công học hội” ở Huế tháng 4/1926. Đó là mô hình giáo dục tư nhân đầu tiên dành cho các thiếu nữ. “Nữ công học hội” tạo tiếng vang lớn trong cộng đồng, và được mở rộng ở Đà Nẵng, ở Sài Gòn thập niên 30 của thế kỷ 20.
Năm 1928, Đạm Phương Nữ Sử bị thực dân Pháp bắt giam vì bị nghi ngờ bà có tham gia hoạt động cách mạng. Sau khi được trả tự do cuối năm 1930, Đạm Phương Nữ Sử ít xuất hiện trên các phương tiện truyền thông để tập trung viết sách.
Ngoài hai cuốn sách chuyên luận “Giáo dục nhi đồng” và “Vấn đề phụ nữ ở nước ta”, Đạm Phương Nữ Sử còn có hai tiểu thuyết “Kim tú cầu” và “Hồng phấn tương tri”. Nhà phê bình Phạm Phú Phong đánh giá: “Bà có những đóng góp đáng ghi nhận trong quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà. Khách quan mà nói, không phải tất cả đã hoàn hảo, nhất là về kết cấu giản đơn, tâm lý nhân vật cứng nhắc, ngôn ngữ miêu tả đôi chỗ chưa thoát khỏi lối văn biền ngẫu... Nhưng không thể đòi hỏi tất cả mọi điều đối với một người đi mở đường. Vì vậy, cũng công bằng mà khẳng định, Đạm Phương Nữ Sử là nữ tiểu thuyết gia đầu tiên ở nước ta”.
Một tác phẩm của Đạm Phương Nữ Sử. Ảnh: TL.
Tọa đàm “Nhìn lại một nữ trí thức đầu thế kỷ 20” không chỉ tô đậm chân dung Đạm Phương Nữ Sử, mà còn khẳng định vai trò phụ nữ tiến bộ trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Tác giả Nguyễn Thị Bích Hậu bày tỏ: “Đạm Phương Nữ Sử cùng những người tiên phong đã mở đường cho một xu thế mới. Những nữ lưu xuất sắc của Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 như nhà văn Phan Thị Bạch Vân, chủ báo Cao Thị Khanh, nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh, nữ sĩ Trần Thị Như Mân, sư bà Diệu Không, bà Tuần Chi, bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu, điêu khắc gia Điềm Phùng Thị, danh họa Lê Thị Lựu... đều có phẩm chất tuyệt vời.
Họ phải rất dũng cảm mới bước ra khỏi vòng vây khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, của mâu thuẫn và xung đột trong từng gia đình, cho tới nhiều biển chuyển bi thương của lịch sử khi dân tộc đang trong ách nô lệ của thực dân. Họ dám đối diện với mọi thử thách để làm những việc mà trước đó phụ nữ Việt chưa bao giờ được làm. Trong suốt quá trình này, họ thực sự tỏa sáng bởi vẻ đẹp, bởi tài năng, nhân cách, bởi trí tuệ và chiều sâu tâm hồn của mình”.
Đạm Phương Nữ Sử đã được đặt tên đường tại Huế. Bà cũng có nhiều hậu sinh nổi tiếng, trong đó có con trai là nhà lý luận Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn, 1908-1954) và cháu nội là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
























