Ngành KTTV thời chiến: vừa dự báo phục vụ sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu
Sau năm 1954, tại miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngành Khí tượng Thủy văn (KTTV) tiếp nhận 15 trạm khí tượng bề mặt, 6 trạm hải văn, 41 trạm thủy văn và 27 điểm đo mưa, trong đó nhiều trạm đã ngừng quan trắc). Tại miền Nam, chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn để lại chỉ còn 30 trạm khí tượng, khí hậu, 2 trạm thám không vô tuyến và một số trạm pilot, trạm thủy văn quan trắc định kỳ).

Quan trắc viên ngành KTTV thực hiện ghi chép dữ liệu quan trắc. Ảnh: Quang Dũng.
Đến nay, lĩnh vực KTTV đã có một mạng lưới quan trắc KTTV liên tục được cấy dày, tăng cường tự động hóa và trở thành mạng lưới nền cho mạng lưới quan trắc tài nguyên môi trường, với trên 1800 trạm/điểm đo trên toàn quốc; 1.500 quan trắc viên có mặt trên khắp mọi miền của Tổ quốc, từ vùng sâu, vùng xa đến núi cao và hải đảo.
Giai đoạn 1945 – 1975, đất nước chiến tranh, ngành KTTV vừa làm công tác chuyên môn, vừa tập trung nhiệm vụ xây dựng các tài liệu về tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm…, về kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ như mã luật khí tượng bề mặt; quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt trong chiến tranh; quy phạm tạm thời về quan trắc, chỉnh biên thủy văn; quy phạm quan trắc khí tượng hải văn; quy phạm quan trắc pilot…
Cùng với việc dự báo phục vụ sản xuất và phòng, chống thiên tai, “lấy nông nghiệp làm trọng điểm phục vụ”, dự báo KTTV thời kỳ này còn có nhiệm vụ cấp thiết phục vụ quốc phòng. Các dự báo thời tiết, thời tiết biển chuyên đề phục vụ cho các hoạt động quân sự trên các tuyến giao thông thủy, bộ; dự báo lũ phục vụ cho việc lắp đặt cầu phao, bảo vệ trận địa pháo ven sông đã được thực hiện tích cực với sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan dự báo trung ương và địa phương nên kết quả thường sát với tình hình thực tế diễn biến của các yếu tố thời tiết, thủy văn trên từng khu vực nhỏ, đáp ứng kịp thời yêu cầu chiến đấu của quân và dân ta…


Những thiết bị "đếm gió, đo mưa", ghi chép tình hình khí tượng thủy văn của ngành KTTV. Ảnh: Quang Dũng.
Giai đoạn 1976 – 1990, cùng chung tình hình khó khăn của nền kinh tế sau chiến tranh, ngành KTTV giai đoạn này thiếu thốn về tất cả các mặt từ hạ tầng cho tới thiết bị máy móc, con người. Cột mốc quan trọng của ngành KTTV giai đoạn này được đánh dấu bằng Chỉ thị 249 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trường (nay là Thủ tướng Chính phủ) ngày 9/8/1991 về tăng cường công tác KTTV, nâng cao hiệu quả phục vụ phòng chống bão lụt, giảm nhẹ thiên tai, phục vụ sản xuất và đời sống.
Thực hiện Chỉ thị quan trọng này, Tổng cục KTTV đã xây dựng đề án "Nâng cao năng lực và hiệu quả phục vụ kinh tế - xã hội của Ngành KTTV" bao gồm 5 chương trình mục tiêu, trong đó có chương trình "Đảm bảo dung lượng và chất lượng điều tra cơ bản KTTV, môi trường không khí và nước". Chương trình được triển khai mạnh từ năm 1992 với sự đầu tư của Nhà nước hàng năm được gia tăng đáng kể, sự nỗ lực vượt bậc của toàn Ngành, nên tình trạng xuống cấp của mạng lưới dần được khắc phục.
“Cánh tay phải” của ngành nông nghiệp
Dự báo KTTV phục vụ nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và truyền thống của ngành KTTV. Văn bản thỏa thuận chung được ký ngày 7/3/1986 giữa Tổng cục KTTV và Bộ Nông nghiệp - Công nghiệp thực phẩm về công tác KTTV phục vụ sản xuất nông nghiệp. Thực hiện văn bản này, từ cơ quan dự báo của Tổng cục đến các Đài KTTV tỉnh, thành phố đã đi sâu vào việc dự báo các yếu tố thời tiết, thủy văn có liên quan đến công tác phòng chống úng, hạn, giá rét, sâu bệnh, xác định thời vụ, quá trình sinh trưởng và năng suất cây trồng, vật nuôi…

Dự báo thời tiết phục vụ nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và truyền thống của ngành KTTV. Ảnh: Kiên Trung.
Hệ thống dự báo, cảnh báo KTTV từ trung ương đến địa phương được tổ chức theo 3 cấp dự báo, công nghệ dự báo, cảnh báo KTTV không ngừng được đổi mới, phát triển. Công nghệ dự báo số đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng nghiệp vụ tại Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia và một số Đài KTTV khu vực. Một số mô hình khu vực phân giải cao như mô hình HRM của Đức, WRF của Mỹ, ECMWF của châu Âu… cùng với các hệ thống dự báo tổ hợp hạn ngắn và hạn vừa đã và đang được vận hành hiệu quả tại Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia.
Ứng dụng hệ thống mô hình dự báo thời tiết số trị, các đơn vị dự báo nghiệp vụ trực thuộc Trung tâm KTTV quốc gia đã tiến hành dự báo tới các địa điểm cụ thể như thị trấn, thị xã, thành phố, với khoảng 600 điểm; phát hành bản tin dự báo KTTV đa dạng, thông tin dự báo chi tiết hơn và từng bước nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, không khí lạnh. Đồng thời, các bản tin dự báo KTTV biển, đặc biệt là thời tiết biển khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được tăng cường, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước và phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế biển.

Các cán bộ làm việc tại Trung tâm dự báo KTTV Quốc gia. Ảnh: Quang Dũng.
Ngành KTTV đã cải tiến, thay đổi, điều chỉnh cả về hình thức và nội dung các bản tin dự báo, cảnh báo theo hướng rõ hơn, chi tiết hơn về ảnh hưởng của bão, mưa, lũ để người dân dễ tiếp cận. Bản đồ dự báo bão dễ tham khảo hơn, nhận định rõ hơn về diễn biến mưa, vùng và thời gian có gió mạnh, sóng lớn; khu vực các huyện miền núi có nguy cơ lũ quét, sạt lở đất cao... Các bản tin dự báo bão, lũ được phát sớm hơn từ 30 phút đến 01 giờ so với trước đây và chuyển ngay đến các Đài KTTV khu vực, Đài KTTV tỉnh để kịp thời phục vụ địa phương.
Ngoài ra, đã đưa được cấp độ rủi ro thiên tai vào bản tin, qua đó nâng cao hiệu quả phục vụ và từng bước tiến tới dự báo dựa trên tác động, cảnh báo dựa trên rủi ro. Các nội dung này đã cập nhật, bổ sung kịp thời, đầy đủ nên được các cấp chính quyền ở Trung ương và địa phương ghi nhận, đánh giá cao.

Ngành KTTV đã cung cấp cơ sở, dữ liệu chuyên ngành để các ngành xây dựng kế hoạch, quy hoạch, định hướng phát triển ngành. Ảnh: Kiên Trung.
Đi đôi với việc dự báo phục vụ phòng chống thiên tai, phục vụ công cộng, công tác dự báo KTTV đã sớm đi vào phục vụ các lĩnh vực chuyên đề, chuyên ngành. Ngay từ những năm 1980, các thông tin dự báo KTTV chuyên đề đã phục vụ có hiệu quả quá trình thi công các công trình thủy điện Hòa Bình, Trị An (trong đó đã thực hiện tốt việc dự báo tình hình diễn biến các yếu tố thời tiết, thủy văn với thời gian dự kiến tương đối dài, phục vụ cho việc xác định thời điểm và triển khai kế hoạch các đợt ngăn sông, được cơ quan sử dụng đánh giá cao); dự báo thời tiết (đặc biệt là mưa rào) phục vụ khai thác than ở mỏ Cọc VI, khai thác Apatit Lào Cai, …
Từ nhiều năm nay, các dự báo KTTV chuyên đề phục vụ cho việc quản lý, vận hành các hồ nước: Thác Bà, Đa Nhim, Hòa Bình, Trị An đã được thực hiện tốt, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng dung tích hồ chứa trong việc phát điện, cung cấp nước cho nông nghiệp và phòng chống lụt. Các dự báo thời tiết biển phục vụ cho các hoạt động trên biển như: đánh bắt hải sản, giao thông vận tải, xây dựng, quốc phòng, đặc biệt là khai thác dầu khí tiếp tục phát triển với chất lượng ngày càng cao, thu hút được sự tín nhiệm của người sử dụng - kể cả các Tập đoàn sản xuất, kinh doanh nước ngoài đang có hoạt động kinh tế trên Biển Đông.

Sơ đồ Hệ thống dự báo, cảnh báo KTTV quốc gia hiện nay bao gồm hệ thống quan trắc nội địa, thu thập số liệu quan trắc và dự báo quốc tế, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống xử lý số liệu và dự báo. Dự báo nghiệp vụ tại Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia, 7 Đài KTTV khu vực; 56 Đài KTTV địa phương.