Quy định này được nêu tại Nghị định 42/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 26/1, sửa đổi, bổ sung một số nghị định trong lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm .
Theo nghị định, “thanh lý rừng trồng” được xác định là việc xử lý về tài chính và tài sản đối với rừng trồng bị thiệt hại trong các trường hợp luật định. Đây là lần đầu tiên nội dung thanh lý rừng trồng được quy định thành một mục riêng, với trình tự, thủ tục và mốc thời gian cụ thể cho từng bước thực hiện.
Nghị định 42 nêu rõ trình tự thủ tục và thời hạn giải quyết thanh lý rừng trồng với từng cấp. Ảnh: Sơn Tình.
Quy trình thanh lý rừng trồng bắt đầu từ thời điểm xảy ra thiên tai, dịch bệnh hoặc cháy rừng. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi kết thúc đợt thiên tai, dịch bệnh, hoặc khi có điều kiện tiếp cận hiện trường, tổ chức có rừng trồng bị thiệt hại phải gửi văn bản đề nghị xác nhận thiệt hại đến UBND cấp xã nơi có rừng. Văn bản này là căn cứ để chính quyền cấp xã tổ chức kiểm tra thực địa.
Sau khi nhận được đề nghị, UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức đoàn kiểm tra hiện trường và hoàn thành việc kiểm tra trong thời hạn 3 ngày làm việc. Nội dung kiểm tra nhằm xác định trường hợp rừng trồng có đủ điều kiện được thanh lý hay không và mức độ thiệt hại của rừng trồng.
Kết quả kiểm tra được lập thành biên bản và gửi đến cơ quan có thẩm quyền quyết định thanh lý rừng trồng, đồng thời gửi cho tổ chức có rừng trồng bị thiệt hại .
Trên cơ sở hồ sơ đề nghị thanh lý hợp lệ, trong thời hạn 2 ngày làm việc, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính trình cấp có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng thẩm định thanh lý rừng trồng. Hội đồng thẩm định gồm đại diện cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan tài chính và các đơn vị liên quan theo quy định.
Kể từ ngày có quyết định thành lập, Hội đồng thẩm định có tối đa 10 ngày làm việc để hoàn thành việc thẩm định hồ sơ và phương án thanh lý rừng trồng. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, có mâu thuẫn về số liệu hoặc có dấu hiệu cần xác minh thực tế, Hội đồng thẩm định được tổ chức kiểm tra hiện trường bổ sung. Việc kiểm tra này phải được lập biên bản theo mẫu và đưa vào hồ sơ thẩm định.
Sau khi Hội đồng thẩm định hoàn thành việc thẩm định và có biên bản họp Hội đồng, trong thời hạn 2 ngày làm việc, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính lập báo cáo kết quả thẩm định, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định thanh lý rừng trồng.
Trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ trình hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền xem xét và ban hành quyết định thanh lý rừng trồng. Quyết định này là căn cứ để tổ chức có rừng trồng thực hiện việc chặt bỏ, vệ sinh rừng hoặc bán lâm sản khai thác tận dụng theo hình thức thanh lý được phê duyệt.
Nghị định 42 cũng quy định rõ trách nhiệm tài chính sau thanh lý. Tiền thu được từ bán lâm sản khai thác tận dụng, nếu có, được sử dụng để chi cho các hoạt động lập hồ sơ, khảo sát, đo đếm, chặt hạ, vận chuyển và bảo quản lâm sản.
Phần còn lại sau khi trừ chi phí và nghĩa vụ tài chính được xử lý theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản công. Trường hợp không có nguồn thu hoặc nguồn thu nhỏ hơn chi phí thanh lý, việc xử lý kinh phí thực hiện theo phương án thanh lý đã được phê duyệt.
Sau khi hoàn thành thanh lý, trong thời hạn 10 ngày làm việc, tổ chức có rừng trồng bị thiệt hại phải báo cáo kết quả thực hiện với cơ quan có thẩm quyền quyết định thanh lý. Đối với rừng trồng trong giai đoạn đầu tư, kết quả thanh lý là căn cứ để điều chỉnh dự án đầu tư, kế hoạch vốn, thiết kế và dự toán trồng rừng theo quy định. Đối với rừng trồng sau giai đoạn đầu tư, việc thanh lý được hạch toán và kê khai biến động tài sản theo quy định hiện hành.
Cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ trong lĩnh vực lâm nghiệp. Ảnh: Tùng Đinh.
Bên cạnh xác nhận thiệt hại rừng trồng, Nghị định 42 cũng quy định vai trò của cấp xã trong việc phối hợp quản lý hiện trường rừng bị ảnh hưởng bởi cháy rừng hoặc dịch bệnh. Trong các trường hợp này, cấp xã là đơn vị phối hợp với kiểm lâm địa bàn và các cơ quan liên quan để ghi nhận hiện trạng ban đầu, phục vụ công tác xác minh nguyên nhân và xử lý rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
Ngoài ra, cấp xã còn có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý hoạt động khai thác tận dụng lâm sản từ rừng bị thiệt hại sau khi có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Việc khai thác tận dụng chỉ được thực hiện trên cơ sở hồ sơ đã được xác nhận và phương án xử lý được phê duyệt, nhằm bảo đảm quản lý thống nhất diện tích rừng bị ảnh hưởng.
Nghị định cũng yêu cầu các bước kiểm tra, xác nhận của cấp xã phải được thực hiện bằng văn bản, lưu trữ trong hồ sơ quản lý rừng tại địa phương và gửi đến các cơ quan liên quan theo quy định. Đây là căn cứ để theo dõi biến động rừng, phục vụ công tác thống kê, kiểm kê rừng và quản lý tài nguyên rừng.
Thông qua việc quy định rõ trách nhiệm và thời hạn thực hiện của UBND cấp xã, Nghị định 42/2026/NĐ-CP thiết lập quy trình quản lý rừng với các mốc hành chính cụ thể ngay từ cấp cơ sở, làm cơ sở cho các khâu thẩm định, quyết định và xử lý rừng ở các cấp tiếp theo theo quy định của pháp luật lâm nghiệp.





























