Ký ức làng xưa chấp chới trên đôi cánh thời gian

Tuy Hòa - Chủ Nhật, 15/09/2024 , 18:58 (GMT+7)

Ký ức làng xưa bên dòng sông Lam được tác giả Hoa Mai tái hiện một cách sinh động qua tập tản văn giàu chất thơ, có tên gọi ‘Trên đôi cánh thời gian’.

Tác giả Hoa Mai.

Ký ức làng xưa bao giờ cũng trở thành tài sản quý báu cho những ai biết trân trọng cội nguồn. Ký ức làng xưa với tác giả Hoa Mai giống như một bộ phim âm ảnh mà mỗi cảnh quay chầm chậm đều cồn cào dĩ vãng: “Những ngày bé thơ bên cha mẹ sau lũy tre làng chăn trâu cắt cỏ. Chúng tôi đi, mang tham vọng khám phá những chân trời mới lạ. Vẽ những ước mơ thành công của cuộc đời. Những tháng ngày bôn ba mưu sinh đất khách, vinh quang cũng có mà cay đắng cũng nhiều. Tôi đã sống để mà yêu mọi mảnh đất cưu mang mình, mà tâm niệm nơi đấy cũng là quê hương. Nhưng thật sâu trong tâm khảm, vẫn có một quê hương trong tim mình, đó là quê nhà”.

Hoa Mai sinh ra và lớn lên ở Nghệ An. Sau khi nghỉ hưu ở ngành hải quan, chị dồn mọi năng lượng cho đam mê văn chương từ thời thanh xuân của mình. Tác giả Hoa Mai đã xuất bản gần chục cuốn sách, bao gồm nhiều thể loại thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết. Tuy nhiên, thế mạnh của chị lại nằm ở thể loại tản văn.

Đã tích lũy vốn sống bôn ba và thăng trầm, Hoa Mai viết “Trên đôi cánh thời gian” bằng sự ngoảnh lại của một người nhận diện rõ ràng giá trị sinh tồn: “Tôi đã đủ từng trải mà để hiểu trụ thế là sống gửi, nhỏ nhoi như bèo trôi. Những gặp gỡ chân thành, những ước mơ nắm tay nhau đi ngàn non vạn biển để tìm lại những năm tháng xa xưa thuần khiết chẳng thể nữa rồi. Tôi đã giác ngộ ra rằng những năm tháng trên trần thế này chẳng qua như mây tụ mây tan”. Vì vậy, tuổi già càng khiến chị bình thản: “Vui, buồn thì tìm cảnh tượng náo nhiệt trong ký ức, mọi thứ trong hoàng hôn cũng là một thứ phong cảnh, vui hay buồn, có cũng được, không cũng được đều nhẹ nhõm. Học cách yêu và tự hào hoàng hôn của mình cũng là một điều hạnh phúc của tu tập”.

Tản văn của Hoa Mai đậm chất tự sự. Chị không ngần ngại phơi bày mọi góc khuất riêng tư để tìm kiếm tri âm và tri kỷ. Chị thú nhận “Tôi bị sự quyến rũ của rừng mê hoặc. Bươn chải mưu sinh khắp nước, toàn ở thành phố lớn nhưng càng ngày cái ước mơ có một căn nhà nhỏ nép bên bìa rừng, có suối reo, hoa nở, xa chốn tục lụy. Sống yên bình với cỏ cây luôn cựa quậy trong tâm khảm. Những lời mời ra biển vạn bất đắc dĩ tôi mới nhận lời. Nhưng hễ ai gọi lên rừng là tìm mọi lí do để đi. Y như sâu thẳm trong lòng tôi có tiếng gọi hoang dã của núi rừng”.

Thế nhưng, hoàn cảnh không cho phép chị chọn lựa cuộc sống ấy, chị vẫn cư ngụ ở đô thị. Cho nên, chị tìm kiếm thiên nhiên bằng một hành trình ký ức làng quê. Mảnh đất chôn nhau cắt rốn được chị hồi tưởng: “Ba dãy núi ôm trọn Nam Đàn quê tôi. Nơi có dòng sông Cả, sông Đào chạy suốt huyện, nên ruộng đồng quê tôi ít khi bị hạn hán mưa lũ hành hạ. Tương truyền từ khi mộ bà Hoàng Thị Loan được đưa về trên dãy Đại Huệ, lũ lụt đã không còn viếng thăm quê tôi”.

Ký ức làng xưa chấp chới “trên đôi cánh thời gian” được kết nối với nhiều góc độ thương nhớ. Từ một thói quen sinh hoạt “Dân làng tôi xưa ai cũng tự nấu rượu, để nhà dùng, để bán, để lấy bã hèm nuôi lợn. Mẹ tôi nấu rượu bằng gạo nếp, mỗi cân gạo nếp chỉ lấy một chai rượu trong như mắt mèo. Mỗi khi cha đi giỗ, trong phần lễ cầm đi, nhất định có chai rượu nút lá chuối của mẹ” đến một món ăn bình dị “Xưa trong chạn bếp quê tôi, nhà nào cũng có chai mật. Mật mía làm nên hồn cốt đặc trưng nhiều món ăn xứ Nghệ. Khẩu vị quê tôi là cay và mặn. Nhưng món giả cầy, nhựa mận, bánh ngào, mắm nục, kẹo cu đơ... nhất thiết phải có mật mía. Mật mía giúp cho bếp của phụ nữ tỏa hương, giúp bữa cơm xứ nghèo trở nên hấp dẫn”.

Càng xuôi ngược, con người càng tha thiết không gian bình yên, dẫu kỷ niệm đôi khi mờ nhòe vì những chật vật: “Trong màn sương ký ức tôi liên tưởng làn khói bếp tím mờ nặng nhọc bò ngoằn ngoèo trên mái tranh với một tứ thơ đồng quê lãng mạn. Nhưng thực thế dưới làn khói nên thơ ấy là hình ảnh một cô bé chổng mông thổi lửa nấu cơm chiều, vì trời mưa củi ướt, mắt đỏ kẻ vì khói. Củi đun mùa mưa dầm cũng là một ám ảnh”.

Để được ngụp lặn trong ký ức làng quê, tác giả Hoa Mai luôn tranh thủ trở về mảnh đất từng in dấu tuổi thơ mình. Lắm khi, chị không cần phân biệt mình đang phiêu lãng “trên đôi cánh thời gian” hay trên đôi chân lặng lẽ: “Về quê, vẫn vui, vẫn hạnh phúc. Nhìn cảnh quê bây giờ dường như đã cách cả một đời, thứ hạnh phúc giản dị an bình mà ghim nhớ trong tim đã không còn dành cho mình. Đi một vòng nhân gian, phung phí bao thời gian mà tạo hóa ban cho mình, trải đủ trái đắng cũng như phúc phần, tôi mới ngộ ra những điều cốt tử về thời gian. Hóa ra, thời gian đời tôi sử dụng đã không được may mắn như thời gian thầy, mẹ tôi đã có”.

Cũng như bao người xa xứ, Hoa Mai phát hiện sự đổi thay chóng mặt của nông thôn Nghệ An trong vài năm gần đây. Chị bâng khuâng: “Làng bây giờ nhà ai cũng xây tường, cổng sắt oai vệ. Nhìn cổng để mà đoán nhà gia chủ. Lũy tre đã không còn, hàng rào chè tàu cắt xén công phu đã không còn, bờ giậu có hoa bìm bìm tím cho con bướm ngây thơ nhởn nhơ cũng đã vào dĩ vãng. Ngõ cúc tần hò hẹn e ấp thời xưa của đôi bạn hàng xóm đã chỉ còn trong thơ. Cô hàng xóm có hái hoa bưởi cũng không còn e ấp gói khăn tay vạch rào sang trao cho cậu bạn hàng xóm nữa. Bây giờ dù ở gần nhau, người ta cũng chỉ cần click chuột, gửi cho nhau tấm hình ảo, lãng mạn chân chất ở làng giờ cũng ảo mất rồi. Tất cả đã bị những bức tường vô cảm ngăn cách”.

Tập tản văn "Trên đôi cánh thời gian".

Tuy nhiên, ký ức làng quê vẫn còn hiện diện ở những màu hoa quen thuộc. Tác giả Hoa Mai nhắc đến “ba loài hoa tôi giấu ước muốn trong tim ấy, mỗi thứ cát cứ một vị trí riêng biệt”.

Thứ nhất là hoa thược dược “gắn với phong thái quý tộc cao sang điềm đạm phải nâng niu trân trọng, hoa còn gắn liền với ký ức về cha tôi, ông đồ xứ Nghệ”.

Thứ hai là hoa bướm “nghĩ đến nó, cảm xúc trong tôi lại chênh vênh tưởng tượng ra một cánh đồng cỏ, nắng non mùa xuân vừa lên, thức chúng dậy, nở bừng như một đàn bướm lộng lẫy sắc màu. Những cọng hoa thanh mảnh đung đưa theo vũ điệu của gió, mặc kệ đủ loài cỏ dại đua chen”.

Thứ ba là hoa violet “ai mà không yêu cho được? không da diết trước sắc tím phung phí đến nao lòng? Ai mà không mềm đi trước vẻ yếu ớt của nàng? Ai mà không e dè trước hương thơm khẽ khàng của nàng?”.

Tản văn của Hoa Mai giàu chất thơ. Chị có những câu văn thật run rẩy khi nhắc đến hình ảnh cây bàng thay lá mỗi mùa “Lá bàng chọn cuộc chia ly màu đỏ để tạm biệt nơi gửi gắm một đời một kiếp của mình. Lá ăn gì để có năng lượng đỏ thắm trước giờ chia ly? Hay cả một đời lá tích cóp năng lượng mặt trời cất giấu lặng lẽ, đợi ngày ra đi mới bùng cháy hiến tặng”.

Một mảng ký ức làng quê gây ấn tượng trong tập tản văn “Trên đôi cánh thời gian” là những câu vè đậm chất trào lộng. Ví dụ: “Củ ông Nam, cam cu Tưởng, ngất ngưởng bá Tùng, lung tung ông Đạt, hay nạt ông Sâm, âm thầm cháu Lý, lớt mí ả Dởn”. Những câu vè bên dòng sông Lam có sự độc đáo, mà người nào từng nghe cũng phải bật cười thấm thía.

Tác giả Hoa Mai nhận định: “Những bài vè làng không làm người ta giận dỗi, mất đoàn kết. Trái lại như một nét văn hóa làng. Mỗi khi tụ họp lại đọc cho nhau nghe mà cười vui, rồi thêm thắt cho vè làng ngày càng dài ra. Vè làng không bị quên theo năm tháng, mà nó đi theo dân làng, nó giúp bao nhân vật trong vè làng sống hoài trong ký ức dân làng”.

Tuy Hòa
Tin khác
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây

Những chiếc trống của làng trống Bình An đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ những nghệ nhân tài hoa, nhưng nơi đây đang mong mỏi lớp người kế nghiệp.

Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?
Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?

Cụ Kép Trà tài năng, đức độ, lại có chút ngạo nghễ, bất cần đời. Nhân một buổi bình Truyện Kiều, các quan lại cho rằng cụ mượn thơ mắng quan lại Triều Nguyễn

Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.