Sau Đại hội XIII của Đảng, văn hóa đối ngoại được xác định là một trụ cột quan trọng của nền ngoại giao hiện đại, góp phần tăng sức mạnh mềm và quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Định hướng này đã giúp ngoại giao văn hóa triển khai rộng khắp, từ hoạt động đối ngoại cấp cao tới các chương trình tại địa phương và doanh nghiệp, với gần 9.000 sự kiện, lễ hội hàng năm góp phần nâng cao nhận diện quốc gia.
Ngoại giao văn hóa góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ quốc tế, quảng bá bản sắc văn hóa. Ảnh: Báo Văn hóa.
Đại sứ mềm trong đối ngoại
Trong các hoạt động đối ngoại cấp cao, chương trình Tuần/Ngày Việt Nam và các hoạt động tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh được đổi mới, tạo hiệu ứng tích cực với bạn bè quốc tế. Những chương trình nghệ thuật phục vụ chuyến công du của lãnh đạo và các sự kiện giao lưu đã giúp tăng cường tin cậy chiến lược với đối tác, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam một cách gần gũi, sinh động.
Việc ghi danh di sản và vị thế ở các tổ chức đa phương là minh chứng cụ thể cho hiệu quả ngoại giao văn hóa. Từ năm 2023, Việt Nam liên tiếp đạt các mục tiêu quan trọng: quần đảo Cát Bà được UNESCO công nhận là Di sản thế giới; nhiều thành phố và nghệ nhân Việt Nam được vinh danh trong các mạng lưới, làm nổi bật giá trị bản sắc. Những ghi nhận này không chỉ nâng uy tín quốc tế mà còn mang lại tác động trực tiếp tới phát triển kinh tế - xã hội địa phương, như chuyển dịch cơ cấu tại Ninh Bình dựa vào Di sản Tràng An.
Việt Nam đã ban hành Chiến lược Ngoại giao Văn hóa đến năm 2030, khẳng định văn hóa là 1 trong 3 trụ cột của ngoại giao toàn diện, cùng với chính trị và kinh tế. Chiến lược này không chỉ nhấn mạnh vai trò quảng bá bản sắc văn hóa, mà còn đặt mục tiêu gắn kết chặt chẽ với kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển du lịch, “kinh tế di sản” và quảng bá thương hiệu Việt Nam ở quy mô toàn cầu.
Trong khuôn khổ chiến lược này, ngoại giao văn hóa được coi là công cụ chiến lược để nâng cao vị thế quốc gia, xây dựng môi trường thuận lợi cho quan hệ đối ngoại, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế.
Một trong những thành tựu nổi bật nhất của ngoại giao văn hóa Việt Nam là sự ghi danh và củng cố vị thế tại UNESCO, thể hiện sự công nhận quốc tế đối với giá trị văn hóa, di sản và tư tưởng Việt Nam. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã vượt chỉ tiêu chiến lược đề ra (60 danh hiệu UNESCO đến năm 2030) khi hiện có hơn 67 danh hiệu được UNESCO công nhận, trong đó có nhiều di sản thế giới, mạng lưới thành phố sáng tạo và danh nhân văn hóa thế giới.
Không dừng lại ở đó, các ghi nhận mới nhất cho thấy năm 2025 tiếp tục là năm bứt phá khi Việt Nam nhận thêm nhiều công nhận mới từ UNESCO, như bộ sưu tập âm nhạc của nhà soạn nhạc Hoàng Vân được đưa vào Memory of the World, Thành phố Hồ Chí Minh được công nhận là Thành phố sáng tạo, và các yếu tố văn hóa truyền thống như tranh Đông Hồ được đưa vào danh sách Di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Những bước đi này không chỉ nâng cao số lượng danh hiệu mà còn gia tăng chất lượng, tính đa dạng và chiều sâu giá trị văn hóa Việt Nam.
Trao đổi về nội dung này, PGS,TS Nguyễn Thị Phương Châm - Bí thư Chi bộ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam chia sẻ: "Ngoại giao văn hóa không chỉ dừng lại ở các công nhận mang tính học thuật hay chính sách. Việt Nam đã chủ động tổ chức và tham gia nhiều Tuần/Ngày Việt Nam, lễ hội, triển lãm và chương trình giao lưu văn hóa tại hàng chục quốc gia trên thế giới. Các sự kiện này bao gồm “Ngày Việt Nam tại Brazil - Mỹ Latinh lần đầu tiên”, không gian trải nghiệm văn hóa tại Ả-rập Xê-út, Nhật Bản và nhiều nước khác. Những sự kiện ấy không chỉ thu hút khán giả quốc tế với múa rối nước, ẩm thực, thủ công mỹ nghệ mà còn tạo không gian giao lưu trực tiếp giữa nghệ sĩ, doanh nhân và cộng đồng người dân địa phương".
Các nhà phân tích chính sách cũng đồng tình rằng, hoạt động ngoại giao văn hóa tại địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã trở thành đại sứ mềm không chính thức, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam trong đời sống thường nhật và cả trên nền tảng số.
Nâng nhận diện thương hiệu quốc gia
Ngoại giao văn hóa cũng tạo ra tác động mạnh mẽ tới kinh tế - xã hội, đặc biệt trong các ngành du lịch, công nghiệp văn hóa và “kinh tế di sản”. Các di sản UNESCO, ngoài giá trị tinh thần, còn thu hút du lịch quốc tế, góp phần thúc đẩy du lịch xanh, phát triển cộng đồng và sinh kế bền vững tại các địa phương như Hội An, Huế hay Ninh Bình.
Thành công này được minh chứng thêm qua các giải thưởng quốc tế như World Travel Awards 2024, nơi Việt Nam được xếp hạng “Điểm đến hàng đầu châu Á”, “Điểm đến di sản hàng đầu” và nhiều giải khác cho thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, qua đó góp phần nâng cao nhận diện thương hiệu quốc gia trong ngành du lịch.
Trong bối cảnh thế giới đối mặt với xung đột, biến động địa chính trị và thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, văn hóa trở thành nền tảng gắn kết, tạo ra không gian đối thoại và hợp tác. Việc UNESCO thông qua sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững”, do Việt Nam đề xuất, đánh dấu một cột mốc lịch sử, đồng thời mở rộng vai trò của Việt Nam trong việc kiến tạo tương lai hòa bình và hợp tác văn hóa toàn cầu.
Ngoại giao văn hóa cũng nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như một lực lượng bản sắc - vừa là đối tượng lan tỏa văn hóa, vừa là cầu nối giữa Việt Nam và xã hội toàn cầu. Điều này phản ánh một bước tiến trong tư duy đối ngoại: văn hóa không chỉ là truyền thống mà là nguồn lực chiến lược, bền vững và năng động.
Ngoại giao văn hóa đang biến thách thức toàn cầu thành cơ hội chiến lược, góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ quốc tế, quảng bá bản sắc văn hóa Việt Nam và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Từ sự ghi danh tại UNESCO đến những kỳ vọng dài hạn trong chiến lược đến năm 2030, ngoại giao văn hóa Việt Nam không chỉ kể câu chuyện của quá khứ mà còn thể hiện khát vọng của một quốc gia tự tin, nhân văn và hướng tới tương lai bền vững.




























