LTS: Ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm 2026 được Liên hợp quốc phát động với chủ đề "Hành động của địa phương cho hiệu quả toàn cầu", nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động và sáng kiến ở cấp địa phương nhằm thúc đẩy thực hiện hiệu quả các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học. Trong đó, cách tiếp cận toàn xã hội được xác định là giải pháp để triển khai hiệu quả Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học và Khung đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh - Montreal (GBF) đến năm 2030.
Nhân dịp này, Báo Nông nghiệp và Môi trường trân trọng giới thiệu thông điệp từ các tổ chức quốc tế hoạt động tích cực trong việc hỗ trợ Việt Nam thực thi cam kết về đa dạng sinh học.
Tiêu dùng có trách nhiệm để giảm áp lực lên thiên nhiên
Bà Anja Barth, Cố vấn trưởng các dự án rừng và đa dạng sinh học, GIZ Việt Nam. Ảnh: Kiều Chi.
“Hành động của địa phương cho hiệu quả toàn cầu” là thông điệp mang ý nghĩa sâu sắc, nhấn mạnh vai trò của các bên liên quan ở địa phương, tri thức bản địa và sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn thiên nhiên. Điều này sẽ giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc gia và toàn cầu về đa dạng sinh học.
Nhưng hành động địa phương không chỉ giới hạn ở các cộng đồng sống trong hoặc gần khu bảo tồn, mà còn liên quan trực tiếp đến mỗi cá nhân chúng ta thông qua lựa chọn tiêu dùng và lối sống hằng ngày - những yếu tố có tác động lớn đến môi trường sống và hệ sinh thái.
Để hỗ trợ tốt hơn cho bảo tồn đa dạng sinh học ở cấp địa phương và đóng góp vào Khung Đa dạng sinh học Toàn cầu (GBF), Việt Nam nên áp dụng cách tiếp cận bảo tồn tích hợp, công bằng và có sự tham gia của người dân. Cách tiếp cận này cần được mở rộng thông qua các biện pháp bảo tồn hiệu quả ngoài khu bảo tồn (OECMs) trên nhiều hệ sinh thái như rừng, đất ngập nước và biển. Cùng với đó, các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng và tài nguyên thiên nhiên cần được hỗ trợ đầy đủ về kỹ thuật, thể chế, tài chính và hệ thống dữ liệu để tham gia hiệu quả vào công tác bảo tồn và giám sát.
Trong bối cảnh nhiều hệ sinh thái đang bị suy thoái, công nghệ giám sát ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quản lý và ra quyết định dựa trên bằng chứng. Các công cụ như SMART và công nghệ viễn thám mở ra nhiều cơ hội để theo dõi đa dạng sinh học hiệu quả hơn. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, dữ liệu giám sát cần được kết nối và tích hợp giữa các cơ quan, địa phương nhằm hình thành hệ thống thông tin đồng bộ ở cấp quốc gia.
Chúng ta hoàn toàn có thể làm được. Theo tôi, nếu có sự phối hợp liên ngành ở mọi cấp độ, từ cơ quan quản lý, tổ chức đến từng cá nhân, các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học hoàn toàn khả thi.
Đóng góp cho tiến trình này, hợp tác Đức - Việt đồng hành với nhiều bên liên quan để nâng cao năng lực địa phương, cải thiện khả năng tiếp cận thông tin và các công cụ thực tiễn về đa dạng sinh học, qua đó giúp cộng đồng không chỉ tham gia mà còn hưởng lợi từ các giá trị hệ sinh thái.
Tri thức bản địa khơi nguồn tiếng nói của cộng đồng
Ông Thibault Ledecq, Giám đốc Bảo tồn, WWF-Việt Nam. Ảnh: WWF.
Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) đánh giá cao cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam trong các nỗ lực triển khai Khung đa dạng sinh học toàn cầu (GBF), đặc biệt thông qua quá trình rà soát chính sách và tăng cường trách nhiệm của địa phương trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, để những cam kết này thực sự tạo ra tác động tại thực địa, theo WWF, cần ưu tiên hơn việc công nhận, phát huy vai trò và hỗ trợ nguồn lực cho cộng đồng địa phương và chính quyền cơ sở - những lực lượng trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên. WWF cho rằng có một số việc cần được ưu tiên thúc đẩy trong quá trình triển khai GBF và Chiến lược quốc gia tại địa phương:
Trước hết, cần cụ thể hóa các mục tiêu của GBF và Chiến lược quốc gia thành các kế hoạch hành động cấp tỉnh, cấp xã với nguồn tài chính phù hợp, lộ trình rõ ràng, trách nhiệm thực thi cụ thể và hệ thống giám sát khả thi.
Thứ hai, cần từng bước hoàn thiện cơ chế công nhận, hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ phù hợp cho các khu vực bảo tồn hiệu quả ngoài khu bảo tồn (OECMs), bao gồm rừng cộng đồng, các khu vực đất ngập nước do cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ.
Bên cạnh đó, cần tăng cường bảo vệ hành lang đa dạng sinh học và kết nối sinh cảnh nhằm duy trì các chức năng sinh thái quan trọng của hệ sinh thái. Điều này cũng đòi hỏi phải giảm thiểu các mối đe dọa lớn tại địa phương như bẫy bắt, buôn bán động vật hoang dã trái phép, khai thác gỗ trái phép, không bền vững và ô nhiễm môi trường.
Đối với các hệ sinh thái đã bị suy thoái, WWF cho rằng cách tiếp cận ở cấp độ cảnh quan cần được ưu tiên, trong đó phục hồi hệ sinh thái không chỉ là trồng rừng hay phục hồi thảm thực vật, mà còn hướng tới khôi phục quần thể động vật hoang dã và các chức năng sinh thái tự nhiên. Dù các công nghệ tiên tiến như drone, hệ thống năng lượng mặt trời hay bản đồ GIS có thể nâng cao hiệu quả kỹ thuật, nhưng con người, cộng đồng địa phương vẫn là yếu tố quyết định sự thành công lâu dài của các nỗ lực phục hồi. Đồng thời, phục hồi hệ sinh thái không thể thay thế cho việc bảo vệ những cánh rừng tự nhiên còn lại.
WWF cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng ghép tri thức bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số vào quá trình quản lý, giám sát và ra quyết định trong bảo tồn. Những hiểu biết và kinh nghiệm của cộng đồng về mùa vụ, đặc điểm loài và sức khỏe hệ sinh thái, các thực hành bền vững trong bảo vệ và sử dụng đa dạng sinh học… mang lại nhiều giá trị thực tiễn mà khoa học hiện đại có nơi, có lúc chưa kịp phản ánh. Khi người dân thực sự được tham gia, được ghi nhận vai trò, và nhìn thấy lợi ích lâu dài, các nỗ lực bảo tồn sẽ có cơ hội được duy trì bền vững hơn bằng chính sự chủ động và trách nhiệm của cộng đồng địa phương.
Đồng hành cùng cộng đồng vì tương lai hài hòa với thiên nhiên
Ông Vũ Thái Trường, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường UNDP Việt Nam. Ảnh: UNDP.
Hằng năm, ngày 22/5 nhắc nhở chúng ta về mối liên kết không thể tách rời giữa con người và thiên nhiên. Đa dạng sinh học không đơn thuần là một chỉ số sinh thái, mà còn là nền tảng cốt lõi của sinh kế, thịnh vượng và phát triển bền vững.
Năm nay, chủ đề “Hành động của địa phương cho hiệu quả toàn cầu” được Liên hợp quốc lựa chọn mang thông điệp mang tính định hướng mạnh mẽ, phù hợp với bối cảnh của Việt Nam ngày nay.
Việt Nam đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ thông qua những hành động cụ thể. Tuy nhiên, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận: nguồn lực và cơ chế khuyến khích ở cấp địa phương hiện nay vẫn còn hạn chế, trong khi áp lực từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng tăng. Nhiều cộng đồng sống gần rừng, vùng đất ngập nước hay dải ven biển đang bị đặt trước bài toán: Làm sao để vừa bảo vệ thiên nhiên, vừa bảo đảm được sinh kế hằng ngày?
Với kinh nghiệm 30 năm qua từ Chương trình tài trợ nhỏ Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF/SGP), chúng tôi nhận thấy rằng những khoản đầu tư quy mô nhỏ nhưng được thiết kế tốt và đặt đúng trọng tâm có thể tạo ra tác động rất lớn - vừa bảo tồn đa dạng sinh học, vừa tăng khả năng chống chịu biến đổi khí hậu, vừa cải thiện sinh kế. Đây chính là minh chứng rõ ràng rằng khi người dân được trao quyền, họ có thể trở thành lực lượng tiên phong trong bảo vệ thiên nhiên.
Để hiện thực hóa Chiến lược Đa dạng sinh học quốc gia và Khung toàn cầu Côn Minh - Montreal, Việt Nam cần một cách tiếp cận toàn xã hội. Ở đó, mọi mảnh ghép, từ chính quyền, doanh nghiệp đến từng người dân, đều đóng vai trò quyết định. Vì vậy, UNDP đề xuất 3 lĩnh vực ưu tiên cốt lõi.
Thứ nhất, lồng ghép đa dạng sinh học vào mọi quy hoạch phát triển. Các mục tiêu sinh thái phải được tích hợp vào quy hoạch kinh tế - xã hội, nông nghiệp, thủy sản và không gian biển của từng địa phương.
Thứ hai, khơi thông các dòng tài chính đổi mới. Chúng ta cần huy động cả nguồn lực công và tư thông qua các cơ chế như chi trả dịch vụ hệ sinh thái, hợp tác công - tư và đầu tư thuận thiên. Thông qua Sáng kiến Tài chính Đa dạng sinh học (BIOFIN), UNDP đang tích cực đồng hành cùng Việt Nam mở rộng các giải pháp tài chính đột phá này.
Thứ ba, hiện đại hóa bằng công nghệ và dữ liệu tin cậy: Các công cụ như GIS, viễn thám, camera bẫy, eDNA, drone hay hệ thống giám sát cộng đồng có thể giúp cải thiện đáng kể khả năng theo dõi hệ sinh thái và thực thi pháp luật. Đây cũng là định hướng phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW
Song song đó, các nỗ lực bảo tồn cần tiếp tục nhấn mạnh đảm bảo sự tham gia của phụ nữ, thanh niên và cộng đồng dân tộc thiểu số. Họ nắm giữ nhiều tri thức bản địa quý giá trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững.
Nhân Ngày Quốc tế Đa dạng sinh học 2026, tôi gửi đến thông điệp: Tương lai của đa dạng sinh học toàn cầu phụ thuộc vào những hành động hằng ngày của chúng ta tại địa phương. UNDP Việt Nam cam kết tiếp tục đồng hành, thắt chặt hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, cộng đồng, giới học thuật và khu vực tư nhân nhằm nhân rộng các giải pháp bảo tồn do địa phương dẫn dắt.
Hãy cùng nhau hành động, chuyển các cam kết thành những cánh rừng xanh, những rạn san hô hồi sinh và một cuộc sống thịnh vượng, hài hòa cùng thiên nhiên.
















