| Hotline: 0983.970.780

Giá lúa gạo phục hồi, gạo Việt vững bước đi vào các thị trường cao cấp

Thứ Bảy 16/05/2026 , 11:16 (GMT+7)

Tỷ trọng gạo chất lượng cao ngày càng gia tăng, cùng với sự tham gia thị trường của gạo phát thải thấp, đang đưa hạt gạo Việt Nam đi vào các thị trường cao cấp.

Giá lúa gạo đang phục hồi

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đến thời điểm này vụ Đông Xuân 2025-2026 tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản đã kết thúc thu hoạch. Cụ thể, tổng diện tích gieo sạ toàn vùng đạt khoảng 1,239 triệu ha, trong đó đã thu hoạch trên 1,237 triệu ha, năng suất bình quân ước đạt gần 7,4 tấn/ha.

Giá lúa gạo ở ĐBSCL đang phục hồi. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Giá lúa gạo ở ĐBSCL đang phục hồi. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Sau một thời gian giảm mạnh do xuất khẩu gặp khó khăn, giá lúa hàng hóa ở ĐBSCL đang có dấu hiệu phục hồi. Hiện tại, giá thu mua lúa tươi tuy thấp hơn cùng kỳ năm 2025 khoảng 800 - 1.300 đồng/kg, nhưng nếu so với giai đoạn giữa vụ Đông Xuân 2025-2026 thì giá hiện nay đã cải thiện hơn so với giai đoạn thu hoạch rộ giữa vụ Đông Xuân.

Cụ thể, trong giai đoạn thu hoạch rộ vụ Đông Xuân (tháng 2-3/2026), giá lúa Đài Thơm 8/OM18 có thời điểm giảm xuống khoảng 5.500 - 5.700 đồng/kg; OM5451 khoảng 5.300 - 5.500 đồng/kg. Giá lúa hiện nay đã phục hồi trở lại ở một số chủng loại: Đài Thơm 8/OM18 từ 6.000 - 6.100 đồng/kg; OM5451 từ 5.600 - 5.700 đồng/kg; IR50404 từ 5.400 - 5.500 đồng/kg.

Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng lên. Đầu tháng 5, giá gạo 5% tấm của Việt Nam còn ở mức dưới 400 USD/tấn. Sau đó đã vượt lên trên 400 USD/tấn và đến ngày 14/5 ở mức 407 USD/tấn.

Lượng gạo xuất khẩu 4 tháng đầu năm nay tuy thấp hơn một chút so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng tiến độ giao hàng vẫn đang được duy trì ở khối lượng lớn. Trong tháng 4, đã có hơn 1,1 triệu tấn gạo được xuất khẩu, xấp xỉ mức xuất khẩu của tháng 4/2025.

Việc giá gạo xuất khẩu tăng và xuất khẩu gạo được duy trì với khối lượng lớn sẽ là động lực quan trọng để giá lúa gạo trong nước có cơ hội tiếp tục cải thiện trong thời gian tới. Như vậy đến thời điểm này, xuất khẩu gạo năm 2026 vẫn đang duy trì sự ổn định, qua đó, giúp nông dân tiêu thụ hết lúa hàng hóa vụ Đông Xuân 2025-2026 và vụ Hè Thu đang bắt đầu thu hoạch.

Triển vọng từ “Gạo Việt xanh”

Năm 2026 đang mở ra một chương mới cho ngành lúa gạo Việt Nam - không còn là câu chuyện “xuất khẩu thật nhiều”, mà là hành trình nâng tầm giá trị, xây dựng thương hiệu xanh và định vị lại hạt gạo Việt trên bản đồ nông nghiệp bền vững toàn cầu.

Từ những cánh đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long, một cuộc chuyển mình sâu sắc đang diễn ra: chuyển từ tư duy sản lượng sang chất lượng, từ canh tác truyền thống sang nông nghiệp phát thải thấp, từ cạnh tranh bằng giá rẻ sang cạnh tranh bằng giá trị xanh và trách nhiệm môi trường.

Sau nhiều thập kỷ theo đuổi mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và duy trì vị thế trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, Việt Nam đang bắt đầu viết nên một câu chuyện mới: câu chuyện về chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Trung tâm của cuộc chuyển mình ấy là Đề án phát triển 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định 1490/QĐ-TTg - được xem là chương trình tái cấu trúc ngành lúa gạo lớn nhất trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam.

Tính đến tháng 5/2026, hơn 354.000 ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã được triển khai. Đó là minh chứng cho sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy sản xuất của cả hệ thống - từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã đến chính người nông dân.

Cuộc cách mạng từ đồng ruộng

Trên những cánh đồng ở Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ hay Sóc Trăng, người nông dân hôm nay đã quen với những khái niệm vốn từng xa lạ như AWD (tưới ngập khô xen kẽ), MRV (đo lường - báo cáo - thẩm định phát thải), hay truy xuất dữ liệu số hóa.

Nông dân ĐBSCL thu hoạch lúa. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Nông dân ĐBSCL thu hoạch lúa. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Canh tác lúa không còn là “gieo nhiều để được nhiều”. Thay vào đó là gieo thưa hơn, bón phân chính xác hơn, dùng ít thuốc bảo vệ thực vật hơn và đặc biệt là không còn đốt rơm rạ sau thu hoạch. Những thay đổi tưởng chừng nhỏ ấy lại tạo ra hiệu quả rất lớn.

Các mô hình tham gia Đề án đã giảm từ 30-50% lượng giống gieo sạ; giảm khoảng 30% lượng phân đạm; giảm 2-3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật mỗi vụ. Nhờ đó, chi phí đầu vào giảm mạnh, trong khi năng suất vẫn tăng từ 5-10%.

Tại Đồng Tháp, một mô hình điểm đạt năng suất tới 7,1 tấn/ha, lợi nhuận gần 28 triệu đồng/ha, cao hơn từ 4,6-4,8 triệu đồng so với ngoài mô hình. Một số mô hình tiên tiến hơn còn giúp giảm chi phí trung bình 4,12 triệu đồng/ha và tăng năng suất thêm 0,78 tấn/ha.

Quan trọng hơn cả, đây là lần đầu tiên ngành lúa gạo Việt Nam chứng minh được rằng “giảm phát thải không làm giảm năng suất, mà ngược lại còn giúp nông dân tăng thu nhập.”

Theo số liệu thực tế, lượng phát thải nhà kính đã giảm từ 3,13 đến hơn 8 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ ở nhiều mô hình. Điều đó đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia tiên phong trên thế giới trong phát triển lúa gạo carbon thấp ở quy mô lớn.

Đằng sau thành công ấy là sự xuất hiện của các công cụ số hóa như ViRiCert - nền tảng hỗ trợ theo dõi quy trình canh tác, kiểm chứng dữ liệu phát thải và phục vụ cấp chứng nhận “gạo phát thải thấp”. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hạt gạo Việt Nam bước vào thị trường tín chỉ carbon trong tương lai.

Hạt gạo Việt bước vào phân khúc cao cấp

Nếu trước đây gạo Việt chủ yếu cạnh tranh bằng giá thấp tại các thị trường truyền thống, thì năm 2026 đang chứng kiến sự dịch chuyển mạnh sang phân khúc cao cấp.

Xuất khẩu gạo 4 tháng đầu năm giảm cả về lượng và giá trị (đạt 3,37 triệu tấn, trị giá 1,58 tỷ USD, giảm 1,4% về lượng và giảm 10,3% về kim ngạch, nguyên nhân chính là giá gạo trên thế giới giảm nhiều).

Tuy nhiên, xuất khẩu gạo tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng gạo chất lượng cao hiện đã chiếm khoảng 89% tổng lượng xuất khẩu, trong đó 60-70% là gạo thơm và gạo đặc sản.

Những thương hiệu như ST24, ST25, Hạt Ngọc Trời hay Japonica đang dần chinh phục các thị trường khó tính như EU, Mỹ và Nhật Bản.

Tháng 6/2025 đánh dấu cột mốc lịch sử khi lô “Gạo Việt xanh phát thải thấp” đầu tiên được xuất khẩu sang Nhật Bản với giá FOB hơn 800 USD/tấn. Một số dòng gạo thơm chất lượng cao hiện đạt mức giá 700-800 USD/tấn, trong khi ST25 đã chạm ngưỡng 1.150 USD/tấn - cao hơn từ 10-25% so với gạo thông thường.

Điều đó cho thấy thị trường thế giới đang thay đổi rất nhanh. Người tiêu dùng không chỉ mua “hạt gạo”, mà đang mua cả câu chuyện phía sau hạt gạo ấy - câu chuyện về môi trường, phát thải carbon, trách nhiệm xã hội và sự minh bạch chuỗi cung ứng.

Sức mạnh của sự đồng hành

Một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên thành công bước đầu của Đề án chính là sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa “4 nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân.

Một cánh đồng tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Một cánh đồng tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách và đầu tư hạ tầng. Các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức quốc tế như IRRI, World Bank hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng hệ thống MRV và tiêu chuẩn phát thải thấp.

Doanh nghiệp bắt đầu thay đổi cách tiếp cận - không còn chỉ “mua lúa sau thu hoạch”, mà tham gia xây dựng vùng nguyên liệu, ký hợp đồng bao tiêu dài hạn, hỗ trợ dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.

Trong khi đó, các hợp tác xã đang trở thành “hạt nhân tổ chức” của chuỗi giá trị mới. Chính họ là cầu nối giúp chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, triển khai nhật ký điện tử, tổ chức sản xuất đồng bộ và kết nối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Tại nhiều địa phương, nông dân đã không còn xem việc giảm phát thải là “gánh nặng”, mà bắt đầu coi đây là lợi thế cạnh tranh mới của hạt gạo Việt Nam.

Từ an ninh lương thực đến trách nhiệm toàn cầu

Trong nhiều năm, Việt Nam được biết đến là một cường quốc xuất khẩu gạo. Nhưng năm 2026 có thể sẽ được nhớ tới như thời điểm Việt Nam bắt đầu trở thành một hình mẫu mới về nông nghiệp trách nhiệm và phát triển xanh.

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao không đơn thuần là câu chuyện tăng năng suất hay nâng giá xuất khẩu. Đó là bước chuyển từ “nông nghiệp sản lượng” sang “nông nghiệp giá trị”; từ tư duy “sản xuất càng nhiều càng tốt” sang “sản xuất thông minh, hiệu quả và bền vững”.

Trong bối cảnh các thị trường lớn như EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc ngày càng siết chặt tiêu chuẩn ESG và phát thải carbon, lựa chọn của Việt Nam hôm nay không chỉ đúng, mà còn là lựa chọn mang tính sống còn cho tương lai ngành hàng lúa gạo.

Từ những cánh đồng phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long, hạt gạo Việt Nam đang mang theo một thông điệp mới ra thế giới:

Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh lương thực, mà còn sẵn sàng trở thành quốc gia tiên phong trong xây dựng nền nông nghiệp xanh, minh bạch và có trách nhiệm với khí hậu toàn cầu.

Và trên hành trình hướng tới cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, hạt gạo Việt đang từng bước trở thành biểu tượng cho khát vọng phát triển bền vững của cả một nền nông nghiệp.

Xem thêm
Ghi nhận đóng góp của người có uy tín vùng đồng bào dân tộc

Thái Nguyên Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam gặp mặt già làng, trưởng bản, người có uy tín tiêu biểu vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực phía Bắc năm 2026.

Giá lúa gạo phục hồi, gạo Việt vững bước đi vào các thị trường cao cấp