| Hotline: 0983.970.780

Giải pháp tổng thể điều tiết và khai thác bền vững vùng hạ du sông Hồng

Thứ Bảy 16/05/2026 , 08:08 (GMT+7)

Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đề xuất giải pháp xây dựng 10 công trình đập dâng điều tiết nguồn nước trên toàn hệ thống sông Hồng.

Lời tòa soạn: TP. Hà Nội vừa phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, định hướng xây dựng cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, trong đó sông Hồng được xác định là trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo và không gian phát triển chiến lược của Thủ đô. 

Tuy nhiên, cùng với kỳ vọng về một biểu tượng đô thị mới ven sông là những băn khoăn từ dư luận liên quan đến bài toán trị thủy, thoát lũ, tiêu úng và thích ứng với biến đổi khí hậu. Không ít ý kiến đặt câu hỏi, liệu các định hướng phát triển cảnh quan, đô thị ven sông có thể song hành với yêu cầu đảm bảo an toàn thủy lợi, chống ngập cho Hà Nội hay không.

Báo Nông nghiệp và Môi trường trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS. Trần Đình Hòa - Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, phân tích giải pháp tổng thể xây dựng các công trình kiểm soát, điều tiết khai thác đa mục tiêu vùng hạ du sông Hồng theo định hướng quy hoạch tổng thể 100 năm.

Khu vực sông Hồng được định hướng hình thành mạng lưới giao thông tích hợp với đại lộ ven hai bờ hữu và tả dài hơn 80 km trong quy hoạch tầm nhìn 100 năm. Ảnh cắt từ video trình chiếu tại kỳ họp HĐND TP Hà Nội.

Khu vực sông Hồng được định hướng hình thành mạng lưới giao thông tích hợp với đại lộ ven hai bờ hữu và tả dài hơn 80 km trong quy hoạch tầm nhìn 100 năm. Ảnh cắt từ video trình chiếu tại kỳ họp HĐND TP Hà Nội.

Khai thác sông Hồng chưa tương xứng tiềm năng

Sông Hồng là một trong những dòng sông lớn và có ý nghĩa quan trọng bậc nhất ở miền Bắc Việt Nam. Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc, bao gồm lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Trung Quốc và Lào. Tổng chiều dài sông Hồng khoảng 1.149 km, trong đó khoảng 556 km nằm trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở được xác định là trục chiến lược, trục không gian xanh trung tâm, đồng thời là trục kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị gắn với văn hóa sáng tạo dọc hai bên sông Hồng. Đây cũng là không gian biểu trưng cho hình ảnh Hà Nội “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo”, hướng tới trở thành biểu tượng mới của Thủ đô văn minh, hiện đại.

Tuy nhiên, thực trạng sông Hồng và không gian hai bên bờ sông còn nhiều hạn chế, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của trục sông để khẳng định vị thế, vai trò cũng như hiện thực hóa mục tiêu mà quy hoạch tổng thể 100 năm đã định hướng.

Sông Hồng trong nhiều năm qua chịu tác động lớn từ biến động về lũ, mực nước, lưu lượng, dòng chảy và bồi lắng. Mực nước sông thay đổi mạnh theo mùa, chưa bảo đảm duy trì dòng chảy ổn định; một số đoạn lòng sông xuất hiện tình trạng bồi lắng, xói lở, ảnh hưởng đến an toàn và khả năng thoát lũ.

Không gian ven sông cũng chưa được khai thác hiệu quả, còn thiếu các công trình cảnh quan và không gian công cộng; lợi thế về cảnh quan tự nhiên, vị trí trung tâm và tiềm năng quỹ đất hai bên bờ vẫn chưa được phát huy tương xứng. Sự chênh lệch mực nước giữa các mùa rất lớn, mùa khô sông cạn để lộ nhiều bãi bồi, trong khi mùa mưa lũ khiến nhiều khu vực bãi sông bị ngập.

Hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật hai bên bờ chưa đồng bộ, nhiều chỉ tiêu còn thiếu để đáp ứng yêu cầu về chất lượng sống của cư dân đô thị. Công tác quản lý, khai thác và sử dụng bãi sông cũng còn nhiều bất cập.

Trong thời gian dài từ sau năm 1990, khi các hồ thủy điện thượng nguồn phát triển mạnh, sông Hồng đã chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố tự nhiên và nhân sinh. Điều này dẫn đến biến động lòng dẫn, thay đổi chế độ dòng chảy, sụt lún, xói lở và bồi lắng nghiêm trọng tại vùng hạ du. Những diễn biến này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an toàn công trình đê điều, sự ổn định của bờ bãi, lòng sông và không gian ven sông, mà còn tác động trực tiếp đến khả năng tổ chức không gian, phát triển cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật và khai thác hiệu quả quỹ đất hai bên sông.

Bản đồ lưu vực và diễn biến lòng dẫn vùng Đồng bằng sông Hồng. Ảnh: VAWR.

Bản đồ lưu vực và diễn biến lòng dẫn vùng Đồng bằng sông Hồng. Ảnh: VAWR.

Biến động lòng dẫn và tác động đối với vùng hạ du

Lòng dẫn vùng hạ du sông Hồng, sông Đuống trong những năm gần đây đang bị xói sâu và mở rộng mặt cắt ướt ở nhiều đoạn. Trên sông Đuống cao độ đáy sông hạ thấp từ 4-6m, còn trên sông Hồng tại vị trí Sơn Tây đáy sông hạ thấp đến 5m. Đặc biệt, tại một số mặt cắt, lòng dẫn đã hạ thấp trên 10m.

Việc hạ thấp đáy sông có 2 nguyên nhân chính: khai thác cát sỏi quá mức trên sông và hiện tượng “xói nước trong” theo quy luật tự nhiên của dòng chảy. Theo kết quả tính toán cân bằng nước, tổng lượng nước về vẫn đủ cho nhu cầu của cả vùng hạ du, nhu cầu nước hiện tại cho vùng ĐBSH vào khoảng 18 tỷ m3; năm 2050 khoảng 22 tỷ m3 (chiếm 22% lượng nước đến). Tuy nhiên, mực nước có xu hướng ngày càng hạ thấp không thể phục hồi lòng dẫn như trước đây. Điều này tác động lớn đến mọi mặt kinh tế - xã hội của vùng hạ du ĐBSH.

Sự biến động lòng dẫn và mực nước đã tác động sâu sắc tới mọi mặt đời sống, sản xuất ở vùng hạ du.

Về mùa khô, hầu hết các công trình thủy lợi ven sông đều bị trơ đáy, mực nước ngoài sông nhiều thời kỳ còn thấp hơn cả cao trình đáy cống, hoặc cao trình chõ bơm, như trạm bơm Phù Sa, Đan Hoài, Bạch Hạc, Cẩm Đình, Liên Mạc... Hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải nhiều khi đạt dưới 50% theo thiết kế ban đầu; cấp nước cho sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng trầm trọng. Đặc biệt, do không đủ nguồn nước vào các hệ thống sông nội đô đã dẫn đến ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng (hệ thống sông Nhuệ - Đáy; Ngũ Huyện Khê, Bắc Hưng Hải…) đã bị ô nhiễm nguồn nước nặng nề.

Giao thông thủy cũng bị ảnh hưởng lớn (có lúc giao thông thủy qua Hà Nội đã bị tê liệt hoàn toàn). Mực nước ngầm trên toàn vùng cũng bị hạ thấp. Hằng năm Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải xả nước gia tăng từ các hồ chứa thượng nguồn để phục vụ sản xuất, gây tổn thất rất lớn đến an ninh năng lượng (có những năm cao điểm, phải xả nước gia cường khoảng 5 tỷ m3); sự suy giảm nguồn nước về mùa kiệt đã làm cho vấn đề xâm nhập mặn vùng ven biển ngày càng phức tạp, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân.

Ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước trên sông chính và chi lưu sông Hồng. Ảnh: WAWR.

Ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước trên sông chính và chi lưu sông Hồng. Ảnh: WAWR.

Đề xuất loạt “siêu công trình” điều tiết nước đa mục tiêu

Trước thực trạng và xu thế biến động lòng dẫn, mất cân bằng về chế độ dòng chảy như vậy, cấp thiết phải có giải pháp chiến lược, tổng thể đa mục tiêu phục vụ phát triển bền vững cho vùng hạ du sông Hồng. Chính phủ đã giao cho Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam nghiên cứu, đề xuất giải pháp tổng thể xây dựng các công trình dâng nước trên hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình nhằm kiểm soát, điều tiết nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết căn cơ cho vấn đề phát triển bền vững vùng hạ du sông Hồng.

Giải pháp tổng thể đề xuất xây dựng 10 công trình đập dâng điều tiết trên toàn hệ thống (từ hạ du hồ Thủy điện Hòa Bình xuống các cửa sông ven biển của các phân lưu). Các vị trí xây dựng công trình phù hợp với quy hoạch phát triển chung, kết hợp với giao thông thủy, bộ, phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi vị trí công trình tương ứng được đề xuất một giải pháp công nghệ phù hợp. Hệ thống các công trình này, về cơ bản sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề đã nêu ở trên đối với vùng hạ du Đồng bằng sông Hồng.

Kết cấu đập dâng nước thực chất là các công trình có cửa van kiểm soát, điều tiết nguồn nước và nằm hoàn toàn trong phạm vi lòng sông mùa kiệt. Về mùa lũ, các cửa van được vận hành không ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ của sông.

Tuy nhiên, trước mắt (giai đoạn 1), có thể xem xét đầu tư 3 công trình tác động trực tiếp đến vùng Thủ đô Hà Nội. Vùng tuyến dự kiến xây dựng 3 công trình kiểm soát, điều tiết nguồn nước gồm có: Công trình Phố Hiến (Hưng Yên); Công trình Sông Đuống (Hà Nội); Công trình Thao Đà (Hà Nội). Các công trình này có tính cấp bách và mang lại hiệu quả tổng hợp rất lớn.

Giải pháp tổng thể đề xuất xây dựng 10 công trình đập dâng điều tiết trên toàn hệ thống. Ảnh: WAWR.

Giải pháp tổng thể đề xuất xây dựng 10 công trình đập dâng điều tiết trên toàn hệ thống. Ảnh: WAWR.

Để đánh giá toàn diện tác động của giải pháp xây dựng hệ thống công trình kiểm soát nguồn nước vùng hạ du sông Hồng nói chung và trước mắt là 3 công trình giai đoạn 1 nói riêng (đây là các siêu công trình - xét theo nghĩa ảnh hưởng và tác động của công trình), cần đánh giá dựa trên 5 trụ cột mang tính đa mục tiêu như sau:

Thứ nhất, hiệu quả về thủy lợi: Khôi phục cơ chế tự chảy và bảo đảm an ninh nguồn nước.

Các công trình đập dâng sẽ giải quyết triệt để sự cố treo các cống (trạm bơm) lấy nước ven sông đã được xây dựng. Đập dâng sẽ nhân tạo hóa việc nâng cao cột nước thượng lưu về mực nước mùa kiệt tự nhiên như trước năm 2000, ngưỡng thiết kế lấy nước tự chảy (+2.5m đến +3.5m) trong phạm vi 100 km từ Phố Hiến, khắc phục hoàn toàn tình trạng lòng sông bị xói sâu hạ thấp 5-10m trong những thập kỷ qua.

Về an ninh năng lượng, việc nâng mực nước giúp các cống đầu mối hệ thống thủy lợi sông Nhuệ, Bắc Hưng Hải, Bắc Đuống và Bắc Nam Hà lấy lại khả năng lấy nước tự chảy nhờ trọng lực. Hệ thống sẽ loại bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào các tổ hợp trạm bơm dã chiến hiện nay, giúp tiết kiệm tiền điện và chi phí bảo dưỡng mỗi năm. Giảm lượng xả bù từ các nhà máy thủy điện (3-5 tỷ m3) nước trong vụ đông xuân.

Đối với an ninh nguồn nước, đập dâng đảm bảo lưu lượng cấp nước ổn định, dồi dào cho hàng trăm ngàn hecta đất nông nghiệp và nguồn nước thô cho sinh hoạt của vùng Đồng bằng sông Hồng, không phụ thuộc các cực đoan của biến đổi khí hậu trong mùa kiệt.

Thứ hai, hiệu quả về môi trường: Phục hồi dòng chảy, tăng khả năng tự làm sạch và phục hồi hệ sinh thái.

Công trình đập dâng sẽ tái lập dòng chảy môi trường, đập dâng tạo ra lực đẩy thủy tĩnh, đưa một lưu lượng nước khổng lồ và liên tục chảy xuyên suốt hệ thống. Dòng nước này mang theo lượng lớn oxy hòa tan (DO), trực tiếp phá vỡ môi trường yếm khí của các sông, kênh tù nội đồng. Từ đó, góp phần pha loãng và tự làm sạch, trả lại khả năng tự làm sạch tự nhiên cho các dòng sông.

Để bảo vệ hành lang sinh thái, công trình được thiết kế kèm theo đường cá, bảo đảm không chia cắt môi trường sống và duy trì luồng di cư sinh sản của các loài thủy sinh bản địa sông Hồng – Thái Bình.

Thứ ba, hiệu quả về thoát lũ, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hạ du.

Đập được thiết kế với các khoang tràn khẩu độ lớn cùng hệ thống cửa van điều khiển tự động mở hoàn toàn về mùa lũ để không ảnh hưởng đến tiêu thoát lũ và dâng mực nước lũ thiết kế, không làm thay đổi chế độ thủy văn mùa lũ của hệ thống sông Hồng - Thái Bình, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Thủ đô Hà Nội.

Thứ tư, hiệu quả về giao thông thủy.

Đập dâng sẽ duy trì mực nước sâu, ổn định quanh năm ở thượng lưu đập đảm bảo chiều sâu chạy tàu đảm bảo liên tục. Công trình được tích hợp hạng mục âu thuyền, cho phép các sà lan và tàu vận tải trọng tải lớn lưu thông qua đập dễ dàng.

Thứ năm, hiệu quả về cảnh quan đô thị, kiến tạo không gian kinh tế ven sông.

Công trình sẽ xóa bỏ những dòng sông cạn kiệt, những bãi bồi trơ đáy, cỏ dại và rác thải vào mùa khô, đập dâng sẽ duy trì một mặt nước từ +2,5m đến +3,5m quanh năm. Điều này làm thay đổi hoàn toàn vi khí hậu, tạo ra dải hành lang xanh điều hòa nhiệt độ cho đô thị tạo hệ sinh thái thủy sinh. Kết cấu đỉnh đập dâng được tận dụng để xây dựng các cây cầu giao thông liên vùng, tăng cường khả năng kết nối hai bờ tả - hữu sông Hồng và sông Đuống.

Cảnh quan mặt nước ổn định và trong sạch tạo sức hút đầu tư, làm tăng giá trị bất động sản ven sông, tạo điều kiện phát triển các khu đô thị sinh thái, dịch vụ du lịch và thương mại, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các hệ thống đập dâng chỉ huy hiệu quả khi được tích hợp đồng bộ với quy hoạch tổng thể lưu vực sông, quy hoạch đô thị và chiến lược bảo vệ môi trường. Ảnh: Internet.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các hệ thống đập dâng chỉ huy hiệu quả khi được tích hợp đồng bộ với quy hoạch tổng thể lưu vực sông, quy hoạch đô thị và chiến lược bảo vệ môi trường. Ảnh: Internet.

Hệ thống đập dâng trên sông và bài học quốc tế

Nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai hệ thống đập dâng nhằm duy trì mực nước ổn định, cải thiện cảnh quan đô thị, tăng khả năng khai thác giao thông thủy và phát triển kinh tế ven sông. Các mô hình này đồng thời cho thấy việc quản lý dòng chảy không chỉ phục vụ mục tiêu thủy lợi, mà còn gắn chặt với chiến lược phát triển đô thị, sinh thái và thích ứng biến đổi khí hậu.

Tại Úc, hệ thống đập dâng trên sông Murray được xây dựng nhằm điều tiết nguồn nước cho khu vực khô hạn phía Nam. Các công trình này duy trì mực nước ổn định trong mùa khô, hỗ trợ tưới tiêu nông nghiệp, đảm bảo giao thông thủy và hạn chế tình trạng suy giảm hệ sinh thái ven sông. Đáng chú ý, việc vận hành hệ thống luôn gắn với cơ chế giám sát môi trường nghiêm ngặt, bảo đảm cân bằng giữa khai thác nguồn nước và bảo tồn sinh thái tự nhiên.

Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, hệ thống đập dâng trên sông Allegheny được phát triển như một phần của mạng lưới kiểm soát lũ và giao thông đường thủy nội địa. Các đập kết hợp âu tàu không chỉ duy trì độ sâu luồng lạch quanh năm mà còn góp phần tái thiết không gian ven sông, thúc đẩy du lịch, dịch vụ và phát triển đô thị. Nhiều thành phố ven sông tại Mỹ đã tận dụng hiệu quả mặt nước ổn định để hình thành các tuyến công viên, quảng trường và không gian công cộng gắn với sông.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các hệ thống đập dâng chỉ phát huy hiệu quả khi được tích hợp đồng bộ với quy hoạch tổng thể lưu vực sông, quy hoạch đô thị và chiến lược bảo vệ môi trường. Việc duy trì dòng chảy ổn định cần song hành với kiểm soát bồi lắng, bảo đảm thoát lũ, phục hồi hệ sinh thái và mở rộng không gian công cộng ven sông.

Đề xuất và kiến nghị

Vùng Đồng bằng sông Hồng, trong đó có Thủ đô Hà Nội, là vùng kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội quan trọng nhất của cả nước. Vì vậy, việc quản lý, khai thác nguồn nước hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.

Giải pháp tổng thể xây dựng các công trình kiểm soát, điều tiết nguồn nước sẽ mang lại hiệu quả rất lớn trên nhiều mặt: sản xuất nông nghiệp, phát điện, giao thông thủy, cấp nước sinh hoạt, nâng cao mực nước ngầm. Đặc biệt sẽ góp phần làm hồi sinh dòng sông đang bị suy thoái nghiêm trọng, xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường trong các sông nhánh của sông Hồng, trên các hệ thống thủy lợi cũng như hệ thống tiêu thoát nước cho TP. Hà Nội.

Khi được kết hợp với các dự án quy hoạch, kiến trúc thành phố hai bên bờ sông Hồng sẽ tạo nên một TP. Hà Nội hai bên sông bước vào kỷ nguyên mới theo hướng sinh thái và hiện đại xứng tầm với Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Quỳnh Chi (thực hiện)

Xem thêm
Ghi nhận đóng góp của người có uy tín vùng đồng bào dân tộc

Thái Nguyên Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam gặp mặt già làng, trưởng bản, người có uy tín tiêu biểu vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực phía Bắc năm 2026.

Giải pháp tổng thể điều tiết và khai thác bền vững vùng hạ du sông Hồng