Quy luật thủy văn điển hình: Lũ lên nhanh nhưng rút chậm
Ngày 17/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Huế phối hợp với Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Ngập lụt TP. Huế và vấn đề vận hành hồ chứa”, tập trung phân tích nguyên nhân ngập lụt và tìm giải pháp giảm thiểu rủi ro cho đô thị di sản miền Trung.
Các chuyên gia trao đổi tại Hội thảo “Ngập lụt TP. Huế và vấn đề vận hành hồ chứa”. Ảnh: Trung Hiếu.
TS. Hồ Đắc Thái Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Huế, cho biết, Huế nằm ở hạ lưu lưu vực sông Hương, hệ thống sông lớn nhất đổ vào đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Lưu vực rộng khoảng 2.830 km2, thượng nguồn là vùng núi dốc thuộc dãy Trường Sơn - Bạch Mã, còn hạ lưu là đồng bằng thấp trũng nơi đô thị Huế phát triển.
Đặc điểm địa hình này tạo nên quy luật thủy văn điển hình của Huế là lũ lên nhanh nhưng rút chậm. Khi mưa lớn xuất hiện ở vùng núi, nước tập trung rất nhanh về sông Hương, trong khi khả năng thoát lũ ra biển qua hệ đầm phá còn chậm, khiến thành phố có thể ngập diện rộng chỉ trong thời gian ngắn.
Năm 2025, Huế ghi nhận đợt mưa cực đoan với lượng mưa kỷ lục 1.085 mm trong 24 giờ tại Huế và 1.739 mm tại Bạch Mã. Dù mưa rất lớn, thiệt hại đã giảm đáng kể so với trận lũ lịch sử năm 1999, trong đó yếu tố quan trọng là vai trò của hệ thống hồ chứa thượng nguồn gồm Bình Điền trên sông Hữu Trạch, Tả Trạch trên sông Tả Trạch và Hương Điền trên sông Bồ.
Trong trận lũ năm 2025, các hồ đã điều tiết, giữ lại tổng cộng khoảng 572 triệu m3 nước, giúp hạ đỉnh lũ tại TP. Huế từ 0,5 đến 0,8 m.
Tuy nhiên, TS. Hồ Đắc Thái Hoàng cho rằng hiệu quả cắt lũ giữa các trận lũ chưa ổn định. Việc phối hợp vận hành giữa các hồ chứa cũng như giữa hồ chứa với chính quyền vùng hạ du còn khó khăn. Quy trình vận hành hiện hành chưa theo kịp diễn biến mưa lũ ngày càng cực đoan, khó dự báo. Vì vậy, vận hành hồ chứa không chỉ là bài toán kỹ thuật mà còn là vấn đề thể chế, quản lý rủi ro và ra quyết định trong điều kiện bất định.
GS.TS Nguyễn Quốc Dũng trao đổi tại Hội thảo. Ảnh: Trung Hiếu.
Theo GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, chất lượng dự báo khí tượng thủy văn đã cải thiện nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu vận hành hồ chứa linh hoạt. Muốn nâng cao độ chính xác dự báo mưa trên lưu vực, cần xây dựng hệ thống dự báo đa tầng, trong đó mạng lưới trạm đo mặt đất đủ mật độ giữ vai trò rất quan trọng, song hiện vẫn chưa đáp ứng thực tế.
Ông cũng cho biết, trong một lưu vực vừa áp dụng quy trình vận hành đơn hồ, vừa áp dụng quy trình liên hồ, việc phối hợp giữa các hồ chứa là yêu cầu bắt buộc. Luật Tài nguyên nước quy định các hồ trong cùng lưu vực phải xây dựng quy chế phối hợp vận hành, nhưng đến nay vẫn thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật để thực hiện.
Về mùa lũ, quyền chỉ huy xả lũ thuộc Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Tuy nhiên, để người đứng đầu địa phương ra quyết định chính xác cần có đội ngũ kỹ sư tư vấn đủ năng lực cùng các công cụ tính toán hỗ trợ, đây là thách thức lớn đối với nhiều địa phương.
Quy luật thủy văn điển hình của Huế là lũ lên nhanh nhưng rút chậm. Ảnh: VGP/Lê Hoàng.
Đồng quan điểm, ThS. Nguyễn Văn Thành, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia, cho biết hiện công tác dự báo mưa sử dụng nhiều nguồn khác nhau, từ cơ quan khí tượng trong nước đến mô hình toàn cầu của Mỹ, Đức… Điều này đôi khi khiến lực lượng tư vấn vận hành hồ lúng túng trong lựa chọn nguồn tin phù hợp.
Ngoài ra, thời gian xử lý từ lúc trích xuất dữ liệu mưa đến phát hành bản tin còn mất 30-40 phút, nên trong tình huống khẩn cấp có thể chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời.
Chuyển lưu lượng lũ từ hồ Tả Trạch sang sông Nông
PGS.TS Nghiêm Tiến Lam, trường Đại học Thủy lợi, nhận định nguyên nhân chính gây ngập ở Huế là mưa lớn do các tổ hợp thời tiết cực đoan trút xuống lưu vực dốc, đổ về vùng đồng bằng nhỏ hẹp có khả năng thoát lũ hạn chế. Theo ông, chỉ dựa vào hồ chứa hoặc đào kênh thoát lũ đều không mang lại hiệu quả căn cơ, bài toán chống ngập cho Huế cần cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ và lâu dài.
Theo đó, chuyên gia cho rằng TP. Huế cần triển khai các giải pháp tổng hợp để chung sống và thích ứng với lũ, ngập lụt. Trước hết là quy hoạch lại khu dân cư và hạ tầng gắn với phòng chống thiên tai trên cơ sở tính toán thủy văn, ngập lụt có xét đến biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Các khu vực đồi núi, địa hình cao nên ưu tiên bố trí dân cư mới; phát triển chung cư, đô thị nén theo chiều cao, đồng thời nâng nền nhưng vẫn bảo đảm thoát nước.
Bên cạnh đó, cần cập nhật tiêu chuẩn tiêu thoát nước cho công trình xây dựng, giao thông, nhất là đường đắp cao, cầu cống. Thành phố cũng phải tăng cường dự báo, cảnh báo thiên tai; chia sẻ miễn phí dữ liệu khí tượng, thủy văn, vận hành hồ chứa để phục vụ nghiên cứu. Đồng thời thường xuyên cập nhật bản đồ ngập lụt và công bố trực tuyến để người dân chủ động làm nhà chống lũ, dự trữ nhu yếu phẩm, điều chỉnh sản xuất phù hợp mùa mưa lũ.
Chia sẻ về giải pháp nâng cao năng lực điều tiết hồ Tả Trạch để cắt giảm lũ cho hạ du, PGS.TS Ngô Anh Quân, Phó Viện trưởng Viện Thủy công (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam), cho biết hồ Tả Trạch được xem là “tấm lá chắn” bảo vệ hơn 700 km2 lưu vực, góp phần giảm tải lũ cho vùng hạ du, song hiện nay đang chịu áp lực lớn.
Theo ông Quân, thực tế cho thấy quy trình dồn toàn bộ áp lực xả lũ từ hồ Tả Trạch về sông Hương không còn phù hợp trong bối cảnh khí hậu ngày càng cực đoan. Trong khi đó, không gian thoát lũ tự nhiên ở TP. Huế ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị hóa nhanh, khiến nút thắt hạ du bộc lộ rõ hơn.
Ông nhận định, khi lượng mưa vượt xa thiết kế ban đầu, việc vận hành theo hiện trạng không còn đủ khả năng bảo vệ đập nếu không có giải pháp chia sẻ không gian xả lũ. Vì vậy, thay vì dồn toàn bộ lưu lượng về sông Hương, có thể nghiên cứu chuyển một phần lũ liên khu vực sang sông Nông - đầm Cầu Hai, qua đó mở thêm không gian thoát lũ thứ hai, giảm áp lực cho sông Hương và tối ưu dung tích hồ chứa.
Các chuyên gia cho rằng cần nâng cao năng lực điều tiết hồ Tả Trạch để cắt giảm lũ cho hạ du. Ảnh: Nguyễn Phong.
Đồng quan điểm, kỹ sư Đỗ Thanh Lâm, chuyên gia thủy lợi, cho rằng để cắt lũ cho Huế cần tạo hành lang thoát nước từ thượng lưu sông Hương. Theo đề xuất, lưu lượng lũ từ hồ Tả Trạch có thể chuyển qua lưu vực sông Nông thuộc khu vực Lộc Sơn và Lộc Bổn (huyện Phú Lộc cũ). Nhờ đó, vào mùa lũ khoảng 50% lưu lượng nước sẽ thoát trực tiếp ra đầm Cầu Hai rồi ra cửa Tư Hiền, góp phần kiểm soát ngập cho Huế.
Theo ông Lâm, điều kiện địa hình, địa chất khu vực khá thuận lợi để xây dựng hệ thống tràn chuyển dòng. Dọc sông Nông, độ dốc khoảng 0,12%, phù hợp cho việc mở rộng lòng sông để thoát lũ. Chiều dài cần cải tạo, mở rộng và nâng bờ chống tràn chỉ khoảng 12 km, ngắn hơn nhiều so với tuyến thoát lũ qua sông Hương từ hồ Tả Trạch ra cửa Thuận An dài hơn 48 km.
Tại Hội thảo, TS. Hà Ngọc Tuấn (ảnh), đại diện Liên danh Kyushu - WeatherPlus, phân tích cách tiếp cận vận hành hồ chứa trong bối cảnh thời tiết ngày càng biến động và yêu cầu quản lý ngày càng cao. Theo ông, các khâu dự báo, vận hành và cảnh báo không thể tách rời mà phải được xem là một chuỗi liên kết bởi mỗi quyết định điều tiết hồ đều phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng dự báo và tác động ngay đến vùng hạ du.
Trên cơ sở đó, ông giới thiệu hệ thống HNT HydroNet như một nền tảng tích hợp gồm ba lớp chức năng kết nối với hệ thống dự báo chuyên dùng. Trong đó, lớp vận hành đơn hồ sử dụng dữ liệu thời gian thực và mô phỏng kịch bản để chủ động đón lũ, tối ưu điều tiết. Lớp liên hồ đồng bộ dữ liệu toàn lưu vực, giúp đánh giá tác động của từng phương án vận hành. Lớp cảnh báo hạ du cung cấp dự báo ngập lụt và khuyến cáo dựa trên diễn biến thực tế.
Theo TS. Hà Ngọc Tuấn, hệ thống có thể triển khai trên nền hạ tầng sẵn có, tích hợp dữ liệu quan trắc hiện trường cùng các mô hình dự báo để nâng cao độ tin cậy. Việc mở rộng từ cấp nhà máy lên toàn lưu vực sẽ hỗ trợ điều phối liên hồ và giám sát tập trung. Ông khuyến nghị nên triển khai theo hướng từ dưới lên, bắt đầu từ đơn hồ rồi từng bước mở rộng liên hồ để bảo đảm dữ liệu hình thành từ thực tiễn vận hành.
“Bên cạnh đó, hệ thống được định hướng dự báo và cảnh báo dựa trên dữ liệu quan trắc thực tế, kết hợp với quá trình tích lũy dữ liệu theo thời gian. Đây là nguồn đầu vào quan trọng để các mô hình AI liên tục học hỏi, hiệu chỉnh theo thực tế và từng bước nâng cao độ chính xác dự báo, đồng thời vẫn bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai và vận hành”, chuyên gia chia sẻ.
THÁI NGUYÊN Ngày 15/7, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên Trịnh Xuân Trường đối thoại với nông dân về chủ đề phát triển nông nghiệp xanh, đổi mới sáng tạo, và phát triển du lịch nông thôn.
Diễn đàn Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực tại Điện Biên sẽ diễn ra ngày 18/7 tại Điện Biên.
TP.HCM Nhiều giải pháp thúc đẩy chuỗi sầu riêng được đưa ra tại Hội thảo 'Sầu riêng châu Á lần thứ 2 và Kết nối thương mại cung cầu sầu riêng Việt Nam-Trung Quốc' ngày 14/7.
ĐBSCL Giá phân urê giảm mạnh trong những ngày gần đây giúp nông dân vùng ĐBSCL giảm áp lực chi phí sản xuất, thêm kỳ vọng nâng hiệu quả canh tác vụ hè thu năm 2026.
Chiều 11/7, Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia phát cảnh báo một số xã/phường thuộc 4 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Phú Thọ có nguy cơ xảy ra sạt lở, lũ quét.