| Hotline: 0983.970.780

Chuyển rừng phòng hộ sang rừng sản xuất: Phát triển bền vững sinh kế cộng đồng

Thứ Hai 29/06/2026 , 11:02 (GMT+7)

Đồng Nai BQL Rừng phòng hộ Xuân Lộc triển khai thực hiện phương án chuyển loại rừng phòng hộ sang rừng sản xuất, tạo sinh kế bền vững và bảo vệ ‘lá phổi xanh’ của Đồng Nai.

Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ Xuân Lộc hiện đang triển khai thực hiện phương án chuyển đổi một số diện tích rừng phòng hộ sang rừng sản xuất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, nhằm nâng cao giá trị lâm sản, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng và góp phần bảo vệ môi trường.

Báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Duy Công (ảnh), Phó Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Xuân Lộc xoay quanh nội dung này và những kết quả đạt được trong công tác quản lý, trồng và bảo vệ rừng.

Ông Nguyễn Duy Công, Phó Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Xuân Lộc trả lời phỏng vấn Báo Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Minh Sáng.

Ông Nguyễn Duy Công, Phó Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Xuân Lộc trả lời phỏng vấn Báo Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Minh Sáng.

Nâng cao che phủ, bảo vệ môi trường, tạo sinh kế

Thưa ông, BQL Rừng phòng hộ Xuân Lộc vừa tổ chức Lễ phát động trồng rừng năm 2026, vậy mục tiêu và kế hoạch trồng rừng của đơn vị trong năm nay như thế nào?

Như truyền thống hằng năm, Lễ phát động trồng rừng năm nay được tổ chức vào đầu mùa mưa nhằm khơi dậy tinh thần bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng. Mục tiêu trọng tâm năm 2026 là chuyển đổi những diện tích rừng cao su chưa phù hợp sang trồng các loại cây gỗ lớn bản địa để nâng cao chức năng phòng hộ, đồng thời tăng độ che phủ rừng phòng hộ, phát triển rừng sản xuất theo quy hoạch, tạo sinh kế bền vững cho người dân. Chúng tôi cũng triển khai các kế hoạch chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng trong toàn lâm phần được giao.

Để nâng cao chất lượng rừng trồng, BQL đã lựa chọn những loại cây giống nào và áp dụng các giải pháp kỹ thuật ra sao trong quá trình trồng, chăm sóc và quản lý rừng?

Chúng tôi thực hiện công tác phát triển rừng dựa trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng: Đối với rừng sản xuất, ưu tiên các loài cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao như keo lai Ah7, Ah1 xác định là cây trồng chính; Đối với rừng phòng hộ, lựa chọn các loài cây gỗ bản địa lâu năm như trắc, dầu, sao đen, giáng hương. Tất cả cây giống được ươm tại vườn ươm của BQL, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và tuân thủ quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt.

Trong quá trình trồng, chúng tôi cải tạo đất thoái hóa, thực hiện các biện pháp thâm canh như bón phân, phân chia lô trồng theo mật độ 625 cây/ha đối với rừng phòng hộ, 2.220 cây/ha đối với rừng sản xuất, chăm sóc định kỳ, bảo vệ thực bì và phòng chống sâu bệnh. Các tổ lâm nghiệp cộng đồng sẽ giám sát và hướng dẫn người dân thực hiện đầy đủ, đảm bảo cây sinh trưởng tốt và tỷ lệ sống cao.

Công tác trồng rừng hiện nay và quản lý rừng theo tiêu chuẩn FSC không chỉ hướng đến mục tiêu kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Ông đánh giá như thế nào về vai trò này?

Rừng là ‘lá phổi xanh’ của vùng đất Xuân Lộc, việc trồng và quản lý rừng đúng kỹ thuật giúp giữ nước, chống xói mòn đất, giảm nhiệt độ cục bộ và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu với mùa khô kéo dài, việc phủ xanh rừng phòng hộ và rừng sản xuất sẽ duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Việc áp dụng tiêu chuẩn FSC giúp rừng được quản lý và khai thác bền vững, đồng thời nâng cao giá trị sản phẩm lâm nghiệp. Người dân nhận khoán tuân thủ các quy định, chăm sóc cây và khai thác hợp pháp, hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm áp lực khai thác trái phép.

Việc trồng và quản lý rừng đúng kỹ thuật giúp giữ nước, chống xói mòn đất, giảm nhiệt độ cục bộ và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Ảnh: Minh Sáng.

Việc trồng và quản lý rừng đúng kỹ thuật giúp giữ nước, chống xói mòn đất, giảm nhiệt độ cục bộ và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Ảnh: Minh Sáng.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trồng, quản lý và bảo vệ rừng, đơn vị gặp những khó khăn, thách thức nào, cần những giải pháp gì để hoàn thành mục tiêu đề ra thực hiện phương án chuyển loại rừng?

Khó khăn chủ yếu liên quan đến hợp đồng giao khoán cũ, trước đây khi chưa có quyết định phê duyệt phương án chuyển loại rừng phòng hộ sang sản xuất, thì trên diện tích chuyển đổi loại rừng BQL đã giao khoán cho các hộ dân theo Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ, nay chuyển loại rừng phòng hộ sang sản xuất, phải điều chỉnh lại hợp đồng giao khoán cho phù hợp với rừng sản xuất.

Mặt khác, một số hộ dân nhận khoán ngoan cố đòi hỏi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích họ nhận khoán thuộc lâm phận BQL sẽ không hợp tác để điều chỉnh hợp đồng nhận khoán gây trở ngại trong quá trình thực thi nhiệm vụ cũng như việc tổ chức thực hiện phương án chuyển loại rừng từ phòng hộ sang sản xuất.

Phần lớn diện tích thuộc quy hoạch rừng phòng hộ nằm ngoài khu vực chuyển loại rừng từ phòng hộ sang sản xuất có sự tương đồng cả về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình sử dụng đất với khu vực chuyển loại rừng, dẫn đến sự so bì giữa hộ nhận khoán rừng phòng hộ ngoài khu vực chuyển loại rừng với những hộ nằm trong vùng dự án chuyển loại rừng từ rừng phòng hộ sang sản xuất. Hơn nữa, mùa khô kéo dài, gay gắt ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng cây trồng, đòi hỏi sự nỗ lực chăm sóc và phòng chống cháy rừng.

Để khắc phục, BQL tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng; củng cố lực lượng bảo vệ; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ lâm nghiệp cộng đồng để giám sát, tuần tra và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Các mô hình nông - lâm kết hợp được triển khai nhằm tăng thu nhập cho hộ dân nhận khoán, vừa đảm bảo rừng phát triển bền vững, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội tại địa phương. Nhờ những giải pháp đồng bộ này, BQL bảo đảm quyền lợi người dân, ổn định sinh kế và duy trì được “lá phổi xanh” của vùng đất Xuân Lộc.

Cơ sở pháp lý và mục tiêu chuyển đổi rừng

Ông có thể cho biết cơ sở pháp lý và diện tích chuyển đổi rừng từ phòng hộ sang sản xuất?

Cơ sở pháp lý dựa trên Điều 7, Nghị định 156/2018/NĐ-CP. Các tiêu chí gồm: địa hình, lượng mưa, thành phần cơ giới và độ dày tầng đất. Những khu vực không đáp ứng tiêu chuẩn phòng hộ sẽ chuyển sang rừng sản xuất, tối ưu nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý và tạo sinh kế cho người dân.

Hiện diện tích rừng chuyển loại ban đầu là 661 ha, trong đó 435 ha thuộc phân trường Trản Táo, còn lại thuộc phân trường Gia Phu. Các khu vực này đã khảo sát ý kiến người dân; đa số đồng thuận và mong muốn khai thác hợp pháp, phát triển kinh tế và tạo thu nhập ổn định.

Theo ông, việc chuyển sang rừng sản xuất sẽ tạo thuận lợi gì có ảnh hưởng tới chức năng bảo vệ môi trường không?

Việc chuyển rừng phòng hộ sang rừng sản xuất sẽ tạo thuận lợi hơn trong quản lý, đầu tư, khai thác và tái tạo bền vững. Người dân có thể khai thác cây gỗ lớn đúng quy định, triển khai mô hình trồng bổ sung các loài cây giá trị cao. Rừng sản xuất dễ áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm soát mật độ, chăm sóc định kỳ và tái tạo, đảm bảo phát triển bền vững. Chức năng môi trường được duy trì không làm giảm độ che phủ của rừng, ưu tiên trồng các loài cây giữ đất, nước và phòng hộ. Như vậy, rừng vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ sinh thái.

Việc chuyển rừng phòng hộ sang rừng sản xuất sẽ tạo thuận lợi hơn trong quản lý, đầu tư, khai thác và tái tạo bền vững. Ảnh: Minh Sáng.

Việc chuyển rừng phòng hộ sang rừng sản xuất sẽ tạo thuận lợi hơn trong quản lý, đầu tư, khai thác và tái tạo bền vững. Ảnh: Minh Sáng.

BQL sẽ áp dụng những giải pháp gì để vừa phát triển rừng sản xuất, vừa đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường?

Chúng tôi thực hiện theo quy chế quản lý rừng kết hợp với các giải pháp kỹ thuật: cải tạo đất thoái hóa, trồng bổ sung cây gỗ lớn, trồng nông - lâm kết hợp, giám sát và hướng dẫn kỹ thuật cho người nhận khoán. Mục tiêu là vừa đảm bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa duy trì đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và phát triển rừng bền vững.

Việc chuyển đổi loại rừng mang lại những lợi ích gì cho người dân nhận khoán và địa phương?  

Người dân nhận khoán được khai thác hợp pháp, áp dụng mô hình rừng sản xuất chất lượng cao, rút ngắn chu kỳ thu hoạch, tăng thu nhập, giải quyết việc làm và gắn bó lâu dài với rừng. Đồng thời, công tác này góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp địa phương, ổn định sinh kế cộng đồng và tạo ‘lá phổi xanh’ bền vững.

Thực hiện chuyển loại rừng, ông muốn gửi thông điệp gì tới người dân nhận khoán và cộng đồng?

Việc chuyển đổi loại rừng phòng hộ sang rừng sản xuất phù hợp với quy định, quy chế quản lý rừng, do đó trách nhiệm của người nhận khoán phải thực hiện đúng hợp đồng đã ký và các quy định hiện hành, không được tự ý chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn hoặc thực hiện các hành vi vi phạm khác trái quy định của pháp luật.

Chúng tôi mong muốn mọi người dân nhận khoán và cộng đồng hiểu rằng mỗi cây trồng hôm nay là mầm xanh cho tương lai. Bảo vệ và chăm sóc rừng là trách nhiệm chung, góp phần ổn định sinh kế, bảo vệ đất, nguồn nước và tạo môi trường sống bền vững cho thế hệ sau.

Xin cảm ơn ông!

Thực hiện

Xem thêm
Vietstock 2026 khởi động chuỗi hội thảo đầu bờ, lan tỏa tri thức chăn nuôi

Vietstock 2026 phối hợp cùng Hội Chăn nuôi Việt Nam triển khai chuỗi Hội thảo đầu bờ tại các tỉnh trọng điểm ngành chăn nuôi.

Cảnh báo nguy cơ virus lở mồm long móng chủng SAT-1 xâm nhập Việt Nam

Trước nguy cơ chủng virus lở mồm long móng SAT-1 đến gần, các chuyên gia khuyến nghị tăng cường giám sát, chủ động ứng phó để bảo vệ an toàn đàn gia súc.

Ruộng đồng khô khát giữa nắng hạn, nông dân mong có đập ngăn mặn

ĐÀ NẴNG Hạn hán, xâm nhập mặn khiến hàng nghìn hecta lúa vùng hạ lưu sông Vĩnh Điện thiếu nước tưới. Người dân mong sớm có đập ngăn mặn vĩnh cửu.

'Số hóa' vùng nguyên liệu ngành dừa nâng giá trị xuất khẩu

ĐBSCL Bản đồ số vùng nguyên liệu được kỳ vọng giải bài toán chồng lấn đầu tư, minh bạch sản xuất và thúc đẩy chế biến sâu ngành dừa.

Cà Mau, Hà Lan hợp tác quản trị bền vững ngành tôm

Lãnh đạo Cà Mau và Tổng Lãnh sự Hà Lan vừa thảo luận thúc đẩy nông nghiệp xanh, trọng tâm là Dự án "Quản trị bền vững ngành tôm" chuẩn ESG.

Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 7] Chờ cơ chế đủ rộng

CẦN THƠ Đằng sau những giống lúa mới là câu chuyện ít người biết về áp lực tự chủ tài chính, bài toán nguồn lực, khát vọng nghiên cứu của các nhà khoa học Viện Lúa ĐBSCL.

Bàn giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá biển tại Khánh Hòa

Khánh Hòa đang tập trung tháo gỡ khó khăn, cập nhật công nghệ mới nhằm chuyển từ nuôi cá biển truyền thống sang mô hình công nghệ cao, phát triển bền vững.

Bình luận mới nhất

Chuyển rừng phòng hộ sang rừng sản xuất: Phát triển bền vững sinh kế cộng đồng
Lâm nghiệp 2 tuần trước