Chuyên gia thủy lợi Phan Khánh sinh năm 1934 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Ông không chỉ là một kỹ sư cao cấp, mà còn là một tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Thậm chí, không có gì khoa trương khi khẳng định chuyên gia thủy lợi Phan Khánh giống như một cuốn từ điển sống của ngành thủy lợi Việt Nam, mà sức ảnh hưởng đến cộng đồng có thể kể các tác phẩm “Bác Hồ với thủy lợi”, “Lịch sử thủy lợi Việt Nam”, “Chinh phục những dòng sông”, “Danh nhân thủy lợi”, “Hồ Dầu Tiếng - Lịch sử một công trình”, “Những dòng kênh nhọc nhằn, những con người thương nhớ”…
Chuyên gia thủy lợi Phan Khánh tuổi 91. Ảnh: LTN.
Ở tuổi cửu thập, còn khỏe mạnh và minh mẫn như chuyên gia thủy lợi Phan Khánh, không dễ có mấy người. Vậy mà, thật bất ngờ, khi chúng tôi ghé thăm tư gia của ông ở phường Thủ Đức, TP.HCM thì thấy ông lúi húi với bản thảo đang dang dở. Đợi ông sắp xếp lại giấy bút bộn bề, câu chuyện mới bắt đầu.
Thưa chuyên gia thủy lợi Phan Khánh, tính từ tiểu thuyết “Làng ven đê” in năm 1962 đến nay, ông đã có hơn 20 cuốn sách liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và môi trường nói chung, ngành thủy lợi nói riêng. Bây giờ, ông vẫn mong muốn chia sẻ gì thêm chăng?
Tuổi già hay nhớ lại kỷ niệm xa xưa, anh à. Tôi đang viết hồi ký “Chuyện ở làng thơ ấu”, vừa là cái làng của thời nhỏ dại, vừa là cái làng chưa bị bê tông hóa, vẫn nguyên vẹn nét mộc mạc, nét giản dị, nét yên ấm của nông thôn Việt Nam. Cái làng ấy, ngay trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 thì con người vẫn biết nương tựa nhau, vẫn biết yêu thương nhau. Tôi muốn phục dựng những thước phim cách đây 80 năm trong tâm trí tôi, để con cháu sau này hiểu thêm một một giai đoạn cha ông đã trải qua.
Năm 2019, ông từng có cuốn sách “Làng quê buồn vui thương nhớ” dày 450 trang, đọc rất hấp dẫn. Trong đó, tôi cứ nhớ mãi chi tiết gã thợ may Chắt Triêm đang tắm sông thì dân quân ập đến bắt do mặc cái quần đùi có ba màu xanh trắng đỏ như màu cờ Pháp, nên bị nghi ngờ “làm ám hiệu cho địch ném bom”. Dường như ông có một khả năng lưu trữ đặc biệt đối với những sự việc đã chứng kiến hoặc những con người đã gặp gỡ…
Có lẽ đó là sự may mắn mà Thượng Đế đã ban tặng, để cuộc đời tôi theo đuổi ba niềm đam mê lớn, bao gồm văn chương, lịch sử và thủy lợi.
Ba niềm đam mê ấy đã cộng hưởng thành những tiểu thuyết của ông như “Tráng sĩ Ngàn Trươi”, “Người đào kênh Vĩnh Tế”, “Thanh gươm kẻ sĩ”, “Hoàn chỉnh sai” hoặc “Đỗ Thích kỳ án”… Chắc đam mê thủy lợi đến sau, chứ dân xứ Nghệ thì đam mê văn chương và lịch sử cũng bình thường…
Đam mê thủy lợi đã ập vào tôi do thực tế xã hội. Khi tôi đang học cấp hai đã cảm nhận được sự tích cực, sự tận tụy và cả sự dũng cảm của các ông tham, ông ký (gọi chung cả kỹ sư, trung cấp) trong việc bảo vệ, sửa chữa, quản lý thủy lợi chung quanh xóm làng mình cư ngụ. Họ cố gắng vét từng gầu nước tại những công trình bị bom phá hỏng để tưới cho lúa. Đó là thế hệ khoa học kỹ thuật thủy lợi đầu tiên của nhà nước cách mạng. Các vị Nguyễn Hạp, Lê Đức Kim, Nguyễn Duy Tý, Trần Ngọc Hậu, Nguyễn Kim Khách, Lê Văn Dụ, Nguyễn Văn Nho là thế hệ vàng trong lòng tôi. Hầu hết những người đó đều được Pháp đào tạo từ A đến Z, nhưng phẩm chất họ đã là người của cách mạng từ thể xác đến tâm hồn, bởi sức lôi cuốn của cách mạng.
Nghĩa là tình yêu thủy lợi như một duyên phận “bởi chúng mình thương bao nhiêu mảnh đất cằn”?
Tôi cho rằng tác nhân quan trọng cho sự phát triển của ngành thủy lợi Việt Nam là sự thúc đẩy của cấp lãnh đạo cao nhất. Sau sự kiện đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã rất quan tâm thủy lợi. Từ tháng 9/1945 đến tháng 11/1945, đích thân Bác Hồ đã chủ trì nhiều phiên họp Chính phủ để bàn về thủy lợi. Phiên họp ngày 29/10/1945 bàn kế hoạch đắp đê và quyết định dành số ngân khố ít ỏi mua sắt thép, xi măng, đá hộc để sửa cống, nhất là sửa đập Đáy. Phiên họp ngày 19/11/1945 bàn kế hoạch khoán giao khối lượng (không phải đấu thầu) để đắp đê cho các tỉnh. Phiên họp ngày 21/11/1945 bàn về khôi phục các ban quản lý thủy nông, vận hành tưới tiêu cho đồng ruộng.
Rồi tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ viết nhiều bài trên Báo Nhân Dân ký tên “C.B” cổ vũ làm lại đê đập. Nhờ vậy, kỳ tích đã xuất hiện. Trường hợp đập Bái Thượng là đập tràn bê tông trọng lực, bị thủy lôi của Pháp đánh hỏng hoàn toàn một đoạn 30 mét đến tận đáy. Chiều sâu mực nước lúc thi công khoảng 10 mét, với dòng chảy xiết vừa qua mùa lũ. Thế mà, với một kỹ sư, hai tham sự và vài ba sơ cấp thì chỉ sau 6 tháng đã đổ bê tông hàn lại đập chính, sửa chữa khu đầu mối và các công trình trên hệ thống.
Kỹ sư cao cấp Phan Khánh là "nhà sử học" của ngành thủy lợi. Ảnh: LTN.
Ngoài cảm hứng từ “thế hệ vàng”, con đường đưa ông đến với ngành thủy lợi cũng có vẻ “những dòng kênh nhọc nhằn” nhỉ? Ban đầu ông định làm thầy giáo dạy văn mà…
Đúng, đúng… Cuối năm 1954, tôi rời quê nhà ra Hà Nội để học khoa văn của Trường Đại học Sư phạm. Thế nhưng, bố mẹ của tôi nghèo quá, không thể nào chu cấp cho tôi được. Tháng 7/1955, Trường Cao đẳng Công chính chiêu sinh có học bổng, nên tôi chuyển sang học ngành thủy lợi. Lớp đầu tiên ấy có 30 người, chúng tôi được học với GS Phùng Thường Hữu chuyên ngành thủy nông từ Nhật Bản về, và GS Tô Lượng của Trung Quốc dạy thủy công, giáo sư Kỹ Văn Sinh của Triều Tiên dạy đập đất. Mới đó, đã 70 năm rồi, tôi hít thở với ngành thủy lợi.
Ông nhận công tác ở Bộ Thủy lợi ngay khi thành lập ngày 29/4/1958 và gắn bó với Bộ Thủy lợi cho đến khi sáp nhập ngày 15/10/1995. Ông đã chứng kiến không ít thăng trầm của “những con người thương nhớ”?
Xin được tự hào khoe với anh, tuổi trẻ của tôi cũng đáng kiêu hãnh. Khi bước vào tòa nhà số 1 Lò Sũ, Hà Nội để làm chuyên viên Cục Công trình, tôi đã tham gia nhóm giám sát kỹ thuật công trình thủy nông Bắc Hưng Hải túc trực thực địa từ ngày 1/9/1958 đến ngày 30/6/1959. Cho nên, cả bốn lần Bác Hồ đến thăm công trường Bắc Hưng Hải để động viên tinh thần dân công, thì tôi đều có vinh dự được đứng rất gần Bác Hồ.
Phẩm hàm cao nhất của ông trong thời gian công tác chỉ tương đương vụ phó, nhưng ông rất được ưu ái trọng dụng suốt cả ba đời Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn, Nguyễn Thanh Bình và Nguyễn Cảnh Dinh. Ba vị Bộ trưởng ấy, để lại ấn tượng cho ông ra sao?
Ông Nguyễn Cảnh Dinh có nhiều thuận lợi hơn hai nhân vật tiền nhiệm. Ông Hà Kế Tấn và ông Nguyễn Thanh Bình ngồi vào ghế Bộ trưởng khi chưa có hoặc có rất ít kiến thức lẫn kinh nghiệm về thủy lợi. Con thuyền thủy lợi được chuyển sang cho ông Hà Kế Tấn không buồm, không chèo. Còn cơ ngơi mà Hà Kế Tấn bàn giao cho ông Nguyễn Thanh Bình đầy đủ vật lực, nhân lực. Nói hình tượng là con thuyền thủy lợi đồ sộ đang lướt gió, nhưng chỉ mới hướng tới vĩ tuyến 17. Nhiệm vụ ông Nguyễn Thanh Bình phải đưa nó vượt mũi Cà Mau, đến Hà Tiên, lên cả nóc nhà Tây Nguyên. Ông Nguyễn Cảnh Dinh nhận chức Bộ trưởng khi vừa “chín tới” mọi phương diện, không có một điều bất cập nào như hai vị tiền nhiệm. Ông Nguyễn Cảnh Dinh là một Bộ trưởng Thủy lợi thực thụ cả về năng lực chuyên môn lẫn uy tín xã hội.
Ngoài lãnh đạo trực tiếp, ông cũng là một chuyên gia được nhiều lãnh đạo cấp cao mời tham gia các chuyến đi khảo sát thực tế hoặc các cuộc thảo luận quyết sách cho những công trình thủy lợi tầm cỡ quốc gia…?
Tôi từng được trình bày ý kiến trực tiếp với ông Lê Duẩn, ông Nguyễn Văn Linh… Và tôi cũng từng được đi khảo sát thực tế với ông Nguyễn Duy Trinh, ông Đỗ Mười… Tuy nhiên, tôi không thấy ai sâu sát và quyết liệt cùng ngành thủy lợi như ông Võ Văn Kiệt. Từ năm 1991 đến 1994, lũ ở miền Tây Nam bộ trở thành điểm nóng, ông Võ Văn Kiệt đã có những chuyến đi kéo dài cả hai tuần lễ để lăn lộn cùng bà con Tân Châu, An Giang chống lũ. Đó là cơ sở mắt thấy tai nghe để ông Võ Văn Kiệt ban hành Quyết định 99-TTg với mục tiêu “nghiên cứu các biện pháp thoát lũ tràn từ biên giới Campuchia theo hướng đưa ra sông Vàm Cỏ và vịnh Thái Lan”.
Có một điều dễ nhận ra, sau khi thống nhất đất nước, diện mạo thủy lợi ở miền Nam thay đổi khá ngoạn mục. Xin được nghe ý kiến của ông, với tư cách một chuyên gia thủy lợi có mặt ở hầu hết các công trình trọng điểm.
Thủy lợi là ngành đầu tiên có lực lượng chuyên nghiệp được đưa vào miền Nam sau ngày 30/4/1975. Vì sao như vậy? Ngay từ đầu năm 1965, Bộ Thủy lợi đã cử 50 kỹ sư đủ các bộ môn quy hoạch, địa chất, địa hình, thủy văn… do Viện trưởng Viện Khảo sát thiết kế thủy lợi Lê Tính làm trưởng đoàn, đi theo đường mòn Hồ Chí Minh vào miền Nam. Cho nên, khi non sông liền một dải, thì hầu hết mọi kế hoạch phát triển thủy lợi miền Nam đều nhanh chóng và thuận lợi triển khai.
Cuốn sách “Hồ Dầu Tiếng - Lịch sử một công trình” của ông, có nhắc đến hàng chục công nhân viên tiên phong của Công ty xây dựng thủy lợi II đã bất hạnh nằm xuống trong quá trình khảo sát địa hình. Có người hy sinh vì sốt rét, có người hy sinh vì bom mìn còn sót lại sau chiến tranh, và cũng có người hy sinh vì sơ sẩy lọt vào ổ phục kích của Fulro…
Mất mát không chỉ hiện diện ở công trình hồ Dầu Tiếng. Là một nhân chứng có trách nhiệm, tôi xin nói rằng, công trình thủy lợi nào đào đắp thủ công cũng có máu và nước mắt, không nhiều thì ít. Làm kênh Thạch Hãn ở Quảng Trị, mấy trăm người thiệt mạng cũng do bom mìn sót lại sau chiến tranh. Các hồ đập như Sông Rác, Kẻ Gỗ, Nước Trong, Phú Ninh, Phước Hòa… cũng đều có “mồ thủy lợi gió ù ù thổi”. Người nằm dưới mộ mấy ai biết mặt, “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” là vậy.
Những người được thụ hưởng thành quả của hồ Dầu Tiếng hôm nay sẽ không ai nỡ lãng quên công lao của những người đã khuất. Và người Việt Nam cũng không lãng quên Ngân hàng Thế giới đã cho chúng ta vay 110 triệu USD để làm công trình thủy lợi này.
Nhờ số tiền Ngân hàng Thế giới cho vay, mà công trình hồ Dầu Tiếng có được những thiết bị thi công của Nhật Bản. Ví dụ, cái máy đào Kobe thon gọn khi đưa ra công trường thi công cùng cái máy đào 3KT đồ sộ của Liên Xô thì thật một trời một vực. Khi nhìn công nhân thao tác, tôi thấy cái máy đào Kobe như chàng trai đang độ sung mãn, việc gì cũng làm được từ đào đất, xúc đá đến nhổ cây mà lại “uống” rất ít dầu. Còn cái máy đào 3KT to kềnh như ông già bụng phệ chậm chạp, năng suất chẳng bao nhiêu mà “uống” dầu như “mugich” nốc vodka.
Quá trình xây dựng hồ Dầu Tiếng cũng có lắm tình huống buồn cười. Năm 1979, phê duyệt chủ trương, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh lúc đó là ông Nguyễn Văn Tốt nói ngang phè với chúng tôi: “Không dễ ăn đâu. Cái hồ mà có nước thì tao giặt quần cho tụi bây”. Năm 1985, hoàn thành đầu mối và kênh chính. Ngày hội mở nước, ông Nguyễn Văn Tốt đã nghỉ hưu, vẫn đến chung vui với chúng tôi. Vẻ mặt ông Nguyễn Văn Tốt hồ hởi hơn mọi người dân trong vùng thực hiện công trình, dù ông không có một sào đất nào được hưởng lợi. Chúng tôi nói “Hồ đầy nước rồi, bác ạ”, ý nhắc khéo lời thề độc thuở xưa, ông Nguyễn Văn Tốt không chút mếch lòng, chỉ cười xòa “Tao sai rồi, hồi trước tao nghĩ sai rồi”.
Một tác phẩm của Phan Khánh. Ảnh: LTN.
Tuy quy mô không lớn, nhưng các công trình thủy lợi ở khu vực Tây Nguyên cũng rất ấn tượng, phải không ông?
Ôi, nhắc đến thủy lợi ở Tây Nguyên thì phải nhắc đến một quái kiệt là ông Trần Nhơn. Nhỏ hơn tôi một tuổi, ông Trần Nhơn học cùng khóa đầu tiên với tôi ở Trường Cao đẳng Công chính. Khi ông Trần Nhơn làm giám đốc Ty Thủy lợi Đắk Lắk đã có nhiều đột phá, thì mới làm được hồ Buôn Triết, hồ Ea Kao… Chưa hết, được Tỉnh ủy Đắk Lắk cho phép Ty Thủy lợi Đắk Lắk xây dựng trụ sở mới, ông Trần Nhơn đã xuống Sài Gòn mời kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (người thiết kế Dinh Độc Lập) lên Ban Mê Thuột để thực hiện. Do đó, Ty Thủy lợi Đắk Lắk có trụ sở đạt tiêu chí thẩm mỹ cao nhất ngành thủy lợi cả nước.
Về sau, ông Trần Nhơn ra Hà Nội làm Thứ trưởng Thường trực Bộ Thủy lợi, đã chỉ đạo ráo riết hoàn thiện thủy lợi Tây Nguyên. Ngoài 40 tuổi, ông Trần Nhơn mới chịu lấy vợ, mà ngộ lắm, món ngon thường dọn muộn, lại cưới được một tiểu thư xinh đẹp là con gái của luật sư Lê Lộc (đại biểu Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1960).
Trong không khí đầu năm 2026, ông có gửi gắm hay kiến nghị gì chăng?
Tôi chả thiết danh vọng, nhưng tôi cứ phải cố gắng viết để chia sẻ buồn vui của ngành mình. Sao bây giờ lĩnh vực nông nghiệp và môi trường lại không mấy mặn mà với việc kêu gọi sự đồng hành của văn nghệ sĩ? Lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường rất cần những tác phẩm văn học nghệ thuật phản ánh chiều sâu và chiều rộng một cách phong phú, đa dạng.
Trước đây, chúng ta thường xuyên có những đợt vận động sáng tác rất tưng bừng. Chẳng hạn, năm 1983, Bộ Thủy lợi kỷ niệm 25 năm thành lập đã xuất bản tập “Nước reo” quy tụ hàng trăm tác giả nổi tiếng như Chế Lan Viên, Đỗ Nhuận, Huy Cận, Nguyễn Khải, Phạm Tuyên, Trần Hoàn, Ma Văn Kháng, Ngô Ngọc Bội, Đào Vũ, Lư Nhất Vũ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Võ Văn Trực, Vũ Quần Phương, Thanh Thảo…
Vâng, trân trọng cảm ơn ông. Kính chúc ông nhiều sức khỏe!
















