LTS: Tình hình xung đột tại khu vực Trung Đông diễn biến phức tạp, làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy chi phí logistics và vật tư đầu vào tăng cao, trực tiếp tác động đến chi phí sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Trước tình hình trên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng có thư ngỏ kêu gọi các doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị cung ứng vật tư đầu vào (phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật...), doanh nghiệp logistics giữ ổn định hoặc giảm giá, tối đa hóa công suất để đảm bảo nguồn cung trong nước và hỗ trợ sản xuất.
Hưởng ứng lời kêu gọi trên, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng đã có những giải pháp để hỗ trợ sản xuất, trên tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”.
Ngành giống cây trồng chịu tác động chậm hơn
Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam (VSTA) cho biết, những năm gần đây, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, bất kỳ “cú sốc” nào từ bên ngoài, nếu đủ lớn, đều có thể tạo ra những tác động lan tỏa đến các hoạt động kinh tế xã hội trong nước. Trong đó, lĩnh vực nông nghiệp cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng.
Việt Nam là quốc gia xuất khẩu nông sản chủ lực và liên tục xuất siêu trong những năm gần đây, nên những biến động từ bên ngoài chắc chắn có tác động nhất định. Thực tế, từ xung đột Trung Đông hay cuộc chiến Nga - Ukraine, đều đã cảm nhận rõ những ảnh hưởng đến chuỗi sản xuất và cung ứng nói chung.
Những tác động mang tính “dây chuyền” là rất rõ. Trước hết là giá năng lượng leo thang, đặc biệt là xăng dầu - vốn được ví như “máu” của nền kinh tế. Khi xăng dầu tăng, chi phí logistics lập tức đội lên, kéo theo giá đầu vào sản xuất như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, năng lượng… đồng loạt tăng.
Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VSTA cho biết, ảnh hưởng từ xung đột Trung Đông đáng lưu ý với nhóm hạt giống rau, khi Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu khoảng 75 - 85%. Ảnh: Duy Học.
Hệ quả là chi phí sinh hoạt tăng nhanh, làm “mỏng” túi tiền người tiêu dùng, kéo giảm sức mua và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Trong bối cảnh đó, đầu ra nông sản trở nên khó khăn: Giá cao thì khó bán, giá thấp thì thua lỗ, khiến sản xuất đứng trước nguy cơ đình trệ.
Khi sản xuất trồng trọt chững lại, doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào như giống cây trồng cũng bị ảnh hưởng trực tiếp: Sản lượng tiêu thụ giảm, biên lợi nhuận bị thu hẹp, thậm chí lao dốc. Đây là chuỗi tác động liên hoàn khó tránh khỏi trong bối cảnh biến động địa chính trị.
Tuy nhiên, đối với ngành giống cây trồng, hoạt động sản xuất - kinh doanh và vận chuyển mang tính mùa vụ rõ rệt. Vì vậy, tác động từ xung đột Trung Đông ở thời điểm hiện tại chưa ảnh hưởng nhiều đến chuỗi sản xuất giống lúa trong nước. Nguyên nhân là cao điểm thu mua, chế biến, lưu thông và cung ứng giống cho các tỉnh phía bắc, miền Trung và Tây Nguyên hơn 1 tháng nữa mới bắt đầu.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vụ đông xuân đang trong giai đoạn thu hoạch, còn vụ hè thu mới khởi động. Điều này giúp sản xuất trong nước phần nào “tránh” được thời điểm căng thẳng nhất của thị trường. Kỳ vọng là khi bước vào cao điểm mùa vụ, tình hình giá cả và logistics sẽ dần ổn định trở lại.
Dù vậy, một số tác động vẫn hiện hữu, đặc biệt ở khâu nhập khẩu. Biến động tỷ giá, chi phí vận chuyển và bảo hiểm tăng có thể làm đội giá thành hạt giống khi đến tay nông dân. Điều này đáng lưu ý với nhóm hạt giống rau, khi Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu khoảng 75 - 85%.
Tái cấu trúc kênh phân phối, cắt giảm khâu trung gian để giá hạt giống đến tay nông dân hợp lý
Trước lời kêu gọi của Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, lãnh đạo VSTA cho biết, Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam - với vai trò là tổ chức xã hội nghề nghiệp sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, lan tỏa thông điệp của Chính phủ và lãnh đạo Bộ tới cộng đồng doanh nghiệp.
Trên tinh thần đó, Hiệp hội xác định rõ trách nhiệm đồng hành, chia sẻ khó khăn với người nông dân. Bởi lẽ, khi nông dân còn duy trì được sản xuất và ổn định sinh kế, thì doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giống cây trồng mới có thể phát triển bền vững.
Trước những khó khăn hiện nay, các doanh nghiệp hội viên của VSTA sẽ chủ động tiết giảm chi phí, tối ưu ở tất cả các khâu trong chuỗi sản xuất nhằm ổn định giá thành, chấp nhận giảm lợi nhuận để giữ ổn định thị trường.
Trong “cái khó ló cái khôn”, trong thách thức mở cơ hội, đây là thời điểm để doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị sản xuất, quản trị bán hàng; cải tiến quy trình, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thậm chí trí tuệ nhân tạo vào nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh giống cây trồng. Đồng thời, việc tái cấu trúc kênh phân phối, cắt giảm khâu trung gian sẽ góp phần đưa giá hạt giống đến tay nông dân ở mức hợp lý hơn.
Cần một chiến lược phát triển và hiện đại hóa ngành giống cây trồng
Ông Định thông tin, về mức độ tự chủ giống cây trồng tại Việt Nam hiện nay, theo số liệu tổng hợp từ điều tra và hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành viên Hiệp hội, bức tranh có sự phân hóa khá rõ giữa các nhóm cây trồng.
Đối với hạt giống cho nhóm cây lương thực chủ lực như lúa và ngô, mức độ tự chủ tương đối cao. Cụ thể, hạt giống lúa trong nước hiện đáp ứng được trên 90% nhu cầu gieo trồng cho khoảng 7 triệu ha lúa mỗi năm, chủ yếu là các giống lúa thuần. Tuy nhiên, với lúa lai, Việt Nam vẫn phụ thuộc nhập khẩu khoảng 70 - 75% nhu cầu, chủ yếu từ Trung Quốc; sản xuất trong nước mới đáp ứng được 25 - 30%. Dù vậy, diện tích lúa lai đang có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Tổng sản lượng giống do các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội sản xuất và cung ứng khoảng 570.000 - 600.000 tấn/năm.
Hạt giống lúa trong nước hiện đáp ứng được trên 90% nhu cầu gieo trồng cho khoảng 7 triệu ha lúa mỗi năm, chủ yếu là các giống lúa thuần. Ảnh: Hồng Thắm.
Với hạt giống ngô, năng lực sản xuất trong nước đã đáp ứng khoảng 80 - 90% nhu cầu, bao gồm cả sản phẩm của các doanh nghiệp đa quốc gia như: Bayer, Syngenta, C.P. Việt Nam... Không chỉ phục vụ thị trường nội địa, Việt Nam còn tham gia gia công sản xuất hạt giống ngô cho các tập đoàn này để xuất khẩu.
Trong khi đó, nhóm hạt giống rau màu và hoa lại là điểm yếu rõ rệt. Việt Nam chưa có nhiều lợi thế về điều kiện sản xuất và hạ tầng cho giống lai, đặc biệt là các loại rau ôn đới; năng lực nghiên cứu còn hạn chế và chưa đa dạng. Do đó, hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khẩu tới trên 85 - 90% nhu cầu hạt giống rau, hoa, kể cả trong sản xuất nhà kính, nhà màng.
Theo đó, để ngành giống cây trồng Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ, ông Định cho rằng, cần phải có một chiến lược phát triển và hiện đại hóa ngành hạt giống mang tầm nhìn dài hạn.
Trước hết, các Bộ, ngành cần xác định rõ vai trò của giống, hạt giống như một “khâu đột phá” trong chuỗi sản xuất ngành trồng trọt, với tầm nhìn 10, 20, 30 năm. Đồng thời, cần tăng cường năng lực dự báo, đánh giá tác động từ các yếu tố trong và ngoài nước nhằm đảm bảo cân đối cung - cầu và an ninh ngành giống, hướng tới phát triển ổn định, bền vững.
Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu chọn tạo giống. Khoa học công nghệ trong chọn tạo giống hiện đang phát triển khá nhanh với những kết quả thành công vượt sức mong đợi, vì vậy Việt Nam cần chủ động đầu tư, đi trước đón đầu, tận dụng hiệu quả các công nghệ mới như giống chỉnh sửa gen, giống chống chịu bất thuận, giống chất lượng cao, giống ưu thế lai và các công nghệ cố định ưu thế lai.
Thứ ba, chú trọng đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch, đặc biệt là chế biến, bảo quản và đóng gói hạt giống, nhằm nâng cao chất lượng và giảm hao hụt trong chuỗi cung ứng.
Thứ tư, về chính sách và thể chế, cần xem xét điều chỉnh nguồn lực đầu tư cho Chương trình giống quốc gia; cải tiến quy trình, thủ tục nghiên cứu theo hướng tinh gọn, linh hoạt hơn, áp dụng cơ chế khoán và đặt hàng. Đồng thời, cần cân đối hợp lý vai trò giữa khu vực công và khu vực tư nhân, tiếp tục duy trì các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sản xuất giống gốc, giống siêu nguyên chủng theo định hướng của Chương trình giống giai đoạn 2021 - 2030.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý, rà soát, sửa đổi các quy định liên quan như Luật Trồng trọt và các văn bản hướng dẫn, nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh giống cây trồng.
“Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và những cú sốc chuỗi cung ứng ngày càng khó lường, việc nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng mức độ tự chủ là cấp thiết. Song song đó, cần chủ động đa dạng hóa nguồn cung, tăng cường đặt hàng, gia công tại các quốc gia và vùng có lợi thế, từ đó nâng cao khả năng thích ứng và “miễn nhiễm” tốt hơn trước các biến động toàn cầu trong tương lai”, ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam cho biết.

















