Khu vực xã Nghi Dương, thành phố Hải Phòng là một trong những vựa lúa - rươi lớn và độc đáo nhất miền Bắc. Nơi đây 'lộc trời' là con rươi và 'ngọc đất' là cây lúa đã cùng nhau tạo nên mô hình canh tác bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao, đặc biệt là những sản phẩm sạch, an toàn. Thế nhưng những món quà quý từ thiên nhiên này đang đứng trước thách thức vô cùng lớn, đó là xâm nhập mặn ngày càng diễn biến phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Giữ vùng lúa - rươi trước bão mặn
Kính thưa quý vị, qua phóng sự ngắn vừa rồi, có thể thấy thực trạng tình hình xâm nhập mặn ảnh hưởng lớn như thế nào đến vùng nuôi rươi và trồng lúa ngoài đê tại Hải Phòng.
Khu vực xã Nghi Dương (Kiến Quốc, Ngũ Phúc,... cũ), thành phố Hải Phòng – một trong những vựa lúa rươi lớn và độc đáo nhất miền Bắc. Nơi đây, "lộc trời" là con rươi và "ngọc đất" là cây lúa đã cùng nhau tạo nên một mô hình canh tác bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao, và đặc biệt là những sản phẩm sạch, an toàn.
Thế nhưng, những món quà quý giá từ thiên nhiên này đang đứng trước một thách thức vô cùng lớn: đó là xâm nhập mặn, ngày càng diễn biến phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu. Để hiểu rõ hơn về thực trạng này và những giải pháp ứng phó, hôm nay chúng tôi có cuộc trao đổi với các vị khách mời:
Xin giới thiệu bà Vũ Thị Lan Hương – Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng; ông Nguyễn Hồng Sinh – Phó Giám đốc Đài Khí tượng Thủy văn Hải Phòng và ông Trần Văn Trung – Giám đốc Công ty CPĐT Hải Âu Việt.
Xin cảm ơn các vị khách mời đã dành thời gian tham gia buổi tọa đàm do Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày hôm nay.
MC dẫn :
Đầu tiên xin được đặt câu hỏi cho ông Nguyễn Hồng Sinh – Phó Giám đốc Đài Khí tượng Thủy văn Hải Phòng.
MC: Thưa ông Nguyễn Hồng Sinh, có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ bức tranh rộng hơn. Dưới góc độ khí tượng thủy văn, ông có thể cho biết những diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu đã và đang tác động như thế nào đến tình hình xâm nhập mặn tại vùng ven biển phía Đông Hải Phòng, đặc biệt là khu vực huyện Kiến Thụy cũ (nay là xã Nghi Dương) trong những năm gần đây không ạ? Các dự báo, cảnh báo của ngành có những điểm gì đáng lưu ý?
Ông Nguyễn Hồng Sinh:
Vâng. Biến đổi khí hậu đang thể hiện rất rõ qua các yếu tố như nước biển dâng, lượng mưa phân bố không đều – mùa khô thì hạn hán kéo dài, mùa mưa thì tập trung cường độ lớn. Đặc biệt, hoạt động của các đợt gió mùa Đông Bắc mạnh cũng ảnh hưởng đến việc đẩy nước mặn vào sâu trong nội đồng. Những năm gần đây, chúng tôi ghi nhận tần suất và cường độ các đợt xâm nhập mặn mạnh tăng lên. Ví dụ, mùa khô 2019-2020 và cuối 2024 đầu 2025, độ mặn trên các cửa sông ở Hải Phòng, bao gồm cả sông Văn Úc ảnh hưởng trực tiếp đến Kiến Thụy, thường xuyên ở mức cao và xâm nhập sâu hơn so với trung bình nhiều năm. Đài KTTV Khu vực Đông Bắc và Đài KTTV Hải Phòng liên tục theo dõi và đưa ra các bản tin dự báo, cảnh báo sớm về nguy cơ xâm nhập mặn để các địa phương và người dân chủ động phòng tránh. Tuy nhiên, diễn biến ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự ứng phó linh hoạt hơn.
MC:
Cảm ơn ông Nguyễn Hồng Sinh, những con số và phân tích vừa rồi cho thấy mức độ đáng báo động. Con rươi, một đặc sản nhạy cảm của vùng đất này, những năm mặn xâm nhập sâu và kéo dài, chúng tôi ghi nhận sản lượng rươi sụt giảm nghiêm trọng, có nơi mất tới 50-70%, thậm chí mất trắng như một số hộ dân phản ánh. Nước mặn còn làm thay đổi môi trường đáy, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn tự nhiên của rươi. Con rươi không lên hoặc lên rất ít, gây thiệt hại lớn cho người nuôi.
MC:
Vâng, những thiệt hại đó chắc chắn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống bà con. Thưa ông Trần Văn Trung, Công ty Hải Âu Việt đang phát triển thương hiệu OCOP "Gạo hữu cơ Kiến Quốc” rất tốt, lượng khách hàng rất nhiều, thậm chí chưa đến mùa vụ đã bán hết hàng. Vậy, khi xâm nhập mặn hoành hành, quá trình sản xuất lúa đặc sản kết hợp với nuôi rươi của doanh nghiệp và người dân đã gặp những khó khăn cụ thể nào ạ?
Ông Trần Văn Trung:
Khó khăn lắm MC ạ! Cái mô hình lúa rươi này nó cộng sinh. Mặn vào, rươi đã yếu, đã chết thì đất cũng bị ảnh hưởng.
* Với lúa: Lúa trồng trên đất nhiễm mặn còi cọc, đẻ nhánh kém, trỗ bông không đều, hạt lép nhiều, năng suất giảm hẳn. Gạo làm ra chất lượng cũng không được như ý, khó giữ thương hiệu "Gạo hữu cơ Kiến Quốc” vốn nổi tiếng về độ ngon, dẻo, thơm tự nhiên.
* Với rươi: Như anh Hạnh nói, mặn cao là rươi chết. Bà con chúng tôi phải canh con nước từng ngày từng giờ. Có khi thấy nước lớn tưởng ngọt, lấy vào rồi mới biết lẫn mặn, lúc đó thì trở tay không kịp. Chi phí gia cố bờ bao, bơm thau chua rửa mặn cũng tăng lên. Nhiều khi thu hoạch rươi không đủ bù chi phí. Việc liên kết với các chủ đầm để đảm bảo quy trình canh tác hữu cơ, không thuốc trừ sâu, phân bón hóa học cho "Gạo hữu cơ Kiến Quốc" cũng gặp trở ngại khi môi trường nước không ổn định.
MC:
Vâng, xin cảm ơn ông Trần Văn Trung. Những khó khăn mà bà con đang đối mặt là rất rõ ràng. Để bảo vệ vùng lúa rươi – "mỏ vàng" của nông nghiệp Hải Phòng, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn đã và đang có nhiều động thái quyết liệt. Thưa bà Vũ Thị Lan Hương, với vai trò là Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng, bà có thể đánh giá tổng thể về thực trạng xâm nhập mặn đe dọa vùng lúa rươi của Hải Phòng nói riêng và các vùng ven biển khác nói chung? Đồng thời, chia sẻ về những giải pháp chiến lược, cả về công trình thủy lợi, chính sách lẫn kỹ thuật, mà Chi cục đã và đang tham mưu, triển khai để bảo vệ sinh kế bà con không ạ?
Bà Vũ Thị Lan Hương:
Vâng, từ góc độ của ngành nông nghiệp chuyên sâu, chúng tôi nhận thấy biến đổi khí hậu, đặc biệt là hiện tượng xâm nhập mặn gia tăng, đang là thách thức lớn, đe dọa trực tiếp đến 2.330 ha canh tác rươi, lúa rươi phía Đông Hải Phòng (tập trung tại Tiên Lãng, Kiến Thụy, Vĩnh Bảo và An Lão cũ), trong đó khoảng 400 ha đã chịu tác động tiêu cực trong ba năm gần đây. Mức độ mặn cao bất thường, vượt ngưỡng chịu đựng của rươi (dưới 5‰) và lúa (dưới 2‰), khiến các vùng ngoài đê như Đại Hợp, Đoàn Xá, Tú Sơn, Ngũ Đoan trước đây bị ảnh hưởng nặng nề nhất, thậm chí có nơi phải bỏ ngỏ sản xuất như mô hình khuyến nông rất thành công trước đó.
Trước thực trạng đó, việc chủ động thích ứng và ứng dụng khoa học kỹ thuật là yếu tố then chốt. Chi cục đã và đang tập trung vào các giải pháp toàn diện, phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền và bà con nông dân:
Về công trình thủy lợi và quản lý tổng thể: Chúng tôi đã tham mưu và phối hợp với các cấp để ưu tiên đề nghị cấp trên đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi, xây dựng thêm các công trình cấp nước, đắp đê, xây dựng hệ thống cống, kênh dẫn nước mưa để ngăn mặn từ sông Văn Úc và trữ ngọt, chủ động điều tiết nước cho khoảng 800 ha lúa rươi ngoài đê của các xã.
Với các vùng ngoài đê, nơi thiếu sự hỗ trợ của hệ thống thủy lợi, chúng tôi khuyến nghị ưu tiên xây dựng hệ thống bờ vùng để chủ động điều tiết nguồn nước, giám sát chặt chẽ chất lượng nước trước khi sử dụng. Đồng thời, chúng tôi rà soát, kiểm tra định kỳ các công trình thủy lợi và đề xuất nâng cấp các cống cục bộ khác.
Về quản lý môi trường nuôi rươi bền vững: Chúng tôi chuyển giao các giải pháp duy trì cân bằng sinh thái trong môi trường ao đầm, hướng dẫn cách lấy nước, tháo nước hợp lý để giữ độ mặn phù hợp cho rươi phát triển. Đặc biệt, chúng tôi đẩy mạnh nhân rộng các mô hình thí điểm "Nuôi rươi kết hợp cấy lúa gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm" ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật như tạo nguồn thức ăn tự nhiên, bổ sung con giống và quản lý, chăm sóc để tối ưu hóa điều kiện sinh trưởng rươi, đã cho năng suất rươi ấn tượng 50-60 kg/sào , tương đương 5 tấn/ha.
MC:
Với vai trò là người trực tiếp sản xuất và kết nối, ông Trần Văn Trung mong muốn nhận được những hỗ trợ cụ thể nào từ chính quyền và các nhà khoa học để có thể duy trì và phát triển bền vững mô hình lúa rươi, đặc biệt là thương hiệu "Gạo hữu cơ Kiến Quốc”?
Ông Trần Văn Trung:
Chúng tôi rất mong muốn:
* Về công trình: Các cống điều tiết nước sớm được đầu tư xây dựng và vận hành hiệu quả, đồng bộ, đảm bảo ngăn mặn, trữ ngọt kịp thời.
* Về kỹ thuật: Được các nhà khoa học, ngành nông nghiệp thường xuyên tập huấn, chuyển giao các giống mới (lúa, có thể cả rươi nếu có), các quy trình canh tác tiên tiến, dễ áp dụng, đặc biệt là kỹ thuật xử lý đất, nước khi bị nhiễm mặn.
* Về chính sách: Có chính sách hỗ trợ cụ thể cho vùng sản xuất lúa rươi đặc thù, ví dụ hỗ trợ cải tạo đồng ruộng, hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm OCOP "Gạo hữu cơ Kiến Quốc" để đầu ra ổn định hơn, giá trị cao hơn. Chúng tôi cũng mong muốn thông tin dự báo xâm nhập mặn từ Đài KTTV được cập nhật thường xuyên, dễ hiểu để bà con chủ động.
MC:
Để ứng phó hiệu quả với xâm nhập mặn, rõ ràng cần sự vào cuộc đồng bộ. Theo ông Nguyễn Hồng Sinh, vai trò của công tác dự báo, cảnh báo sớm cần được phát huy như thế nào trong sự phối hợp này?
Ông Nguyễn Hồng Sinh:
Công tác dự báo, cảnh báo sớm là tai mắt cho người dân và chính quyền. Chúng tôi sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng dự báo, tăng cường tần suất các bản tin khi có nguy cơ, đặc biệt là các dự báo chuyên biệt cho vùng nông nghiệp. Quan trọng là thông tin phải đến được người dân một cách nhanh nhất, dễ hiểu nhất qua nhiều kênh (truyền thanh xã, tin nhắn, ứng dụng...). Sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các HTX để phổ biến thông tin và có kế hoạch ứng phó kịp thời là vô cùng cần thiết.
MC:
Thưa bà Vũ Thị Lan Hương, trước thực trạng xâm nhập mặn diễn biến phức tạp như hiện nay, Chi cục có tham mưu như thế nào cho UBND TP Hải Phòng để chuyển đổi cơ cấu sản xuất hoặc giải pháp nào giúp người dân tiếp tục sản xuất hiệu quả trên các đâm rươi ạ?
Bà Vũ Thị Lan Hương:
Về chính sách và chuyển đổi cơ cấu: Chúng tôi tham mưu cho Thành phố các chính sách khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp ở những vùng khó đảm bảo nước ngọt, như lựa chọn đối tượng sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế. Hỗ trợ tập huấn kỹ thuật canh tác thích ứng, ứng dụng khoa học công nghệ. Từ năm 2022 đến nay, Hải Phòng cũng đã phân bổ nguồn kinh phí bảo vệ phát triển đất trồng lúa để duy tu, bảo dưỡng hệ thống thủy lợi và hỗ trợ người sản xuất lúa áp dụng giống mới, tiến bộ kỹ thuật. Chúng tôi cũng vận động bà con tuân thủ lịch thời vụ, khuyến cáo của ngành nông nghiệp và đang xây dựng các đề án, chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển bền vững vùng lúa rươi, gắn với xây dựng thương hiệu và du lịch sinh thái.
Về giống cây trồng và quy trình canh tác thông minh: Chúng tôi khuyến cáo bà con ưu tiên sử dụng các giống lúa có khả năng chịu mặn tốt, đã được kiểm định và phù hợp với điều kiện địa phương, đồng thời vẫn phải đảm bảo chất lượng gạo đặc sản OCOP. Hướng dẫn bà con áp dụng các quy trình canh tác "nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu" như quản lý nước linh hoạt, áp dụng quy trình tưới tiêu khoa học để thau chua rửa mặn hiệu quả, đặc biệt trong giai đoạn đầu vụ. Tăng cường sử dụng phân vi sinh hữu cơ để cải tạo đất, tăng cường độ phì nhiêu và khả năng giữ nước ngọt, giảm thiểu tác động của mặn.
MC: Xin được hỏi các vị khách mời, mỗi người có thể chia sẻ một thông điệp ngắn gọn hoặc một kỳ vọng về tương lai của vùng lúa rươi phía Đông Hải Phòng?
Ông Trần Văn Trung: Tôi mong sao nhà nước, nhà khoa học tiếp tục quan tâm, giúp chúng tôi giữ được nghề, giữ được đất, để con rươi, cây lúa, hạt gạo hữu cơ mãi là niềm tự hào của Việt Nam, vững vàng vươn ra thế giới.
Ông Nguyễn Hồng Sinh: Chúng tôi sẽ nỗ lực hết mình để cung cấp thông tin dự báo, cảnh báo ngày càng chính xác, kịp thời, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, trong đó có xâm nhập mặn.
Bà Vũ Thị Lan Hương: Chi cục sẽ tiếp tục đồng hành cùng bà con nông dân và các cấp chính quyền, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển giao quy trình canh tác thông minh, bền vững, để vùng lúa rươi Hải Phòng không chỉ đứng vững mà còn phát triển thịnh vượng, biến thách thức thành cơ hội để tái cơ cấu nông nghiệp hiệu quả hơn.
Xin chân thành cảm ơn ba vị khách mời đã chia sẻ những thông tin cụ thể về thực trạng xâm nhập mặn hiện nay tại Hải Phòng ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nói chung, sản xuất tại vùng lúa – rươi ngoài đê nói riêng và đưa ra những giải pháp, định hướng cho bà con trong thời gian tới.
Thưa quý vị, câu chuyện ứng phó với xâm nhập mặn tại vùng lúa rươi ngoài đê phía đông TP Hải Phòng cho thấy sự chủ động, nỗ lực không ngừng của người nông dân, chính quyền địa phương và các nhà khoa học. Dù thách thức còn ở phía trước, nhưng với những giải pháp căn cơ, sự chung sức đồng lòng, chúng ta có quyền hy vọng về một tương lai nơi những cánh đồng lúa rươi vẫn mãi xanh tươi, trù phú, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam thịnh vượng và bền vững.
Cảm ơn quý vị bà con đã theo dõi tọa đàm của Báo Nông nghiệp và Môi trường. Xin kính chào và hẹn gặp lại quý vị trong các chương trình sau!