1. Ngước lên trời cao, những vì sao như muôn ngàn đốm lửa hồng tần ngần choàng vào bờ vai người ấm áp. Nhịp đập của lửa. Ở đâu bập bùng, nơi đâu ngập ngừng, con thoi đưa đẩy những buồn vui của người Pà Thẻn nương náu những vùng yêu thương.
Người Pà Thẻn. Ảnh: Trần Thành Đạt.
Tôi lại đi và đi, vùng cao cứ như một phép bùa chú nhiệm màu khiến đôi chân tôi mấy bận xoắn xuýt những cung đường Tây Bắc, những nụ cười vắng mặt, những lời yêu sâu mắt, những hoang vu còn ngày đêm dìu dặt trong hơi thở của người Pà Hưng. Tôi đã biết bao lần hoài nghi, truyền thuyết như một sớm mai tỉnh giấc, như một chiều kia ngủ vùi, như con thú hoang tru chơ vơ bên vạt rừng Pà Thẻn, Than Lô. Người ta vượt biển, người ta đâm rừng, người ta ngả kế sinh nhai từ nương từ rẫy. Dẫu có đến từ đâu, từ những biên ải thì người Pà Thẻn với tôi vẫn là máu thịt của vùng cao, máu thịt của núi sông bờ bờ cõi cõi.
Lặn lội vùng cao, chiêm bao những ngày ngắn tháng dài nơi Tuyên Quang, Hà Giang ngọt ngào Tổ quốc. Tôi đã mấy mùa cứu chuộc, những thanh âm khung dệt thọc mạch thời gian. Những tiếng thoi đưa của người Pà Thẻn xì xoạch mà dẫn lối con người ta phiêu lưu trong từng đường tơ, trong từng bụi lửa than hồng, trong những bàn tay ấm nồng ngày đông vụng dại.
Lâu nay, phụ nữ dân tộc Pà Thẻn luôn tự hào về bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình. Niềm tự hào ấy được nhân lên khi Hợp tác xã dệt thổ cẩm truyền thống bản My Bắc được thành lập với mục đích bảo tồn nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Người Pà Thẻn có bộ sưu tập các mẫu hoa văn phong phú như chính cuộc đời họ, được bảo lưu và trao truyền từ đời này sang đời khác. Hoa văn hình học cơ bản như hình chữ thập, tam giác, hình vuông, hình thoi… phân bổ thành các dải băng ngang, làm đường phân tuyến cho những hoa văn khác trên khăn, ngực áo, eo lưng, gấu áo, thân váy. Tôi có cảm giác như những hoa văn ấy như một thứ ẩn ức ngọt ngào còn bám víu trên những chặng đường lưu lạc, những trầm tích đầu sông ngọn nguồn.
Cô gái trẻ Pà Thẻn nào cũng đều biết các kỹ năng thêu, dệt và chắp vá hoa văn trước khi đi làm dâu. Đó là của hồi môn thiêng liêng mà bà, mẹ trao cho con gái. Ngắm nhìn những hình thù các hoa văn xuất hiện trong từng đường khâu, mũi chỉ tôi lại như thấy người Pà Thẻn ngàn xưa rừng sâu mà vòi vọi trở về.
Một ngày mãn xuân, tôi lại ngược về Tây Bắc. Lại nhớ Tây Bắc như mùa thu gấm vóc bao bọc những nẻo đường. Nghe bạn bè nhắc nhiều về Pà Thẻn, tôi chẳng thể không chiều lòng đôi chân ham đi, ham vui. Bản văn hóa du lịch Mý Bắc 100% là người dân tộc Pà Thẻn. Suốt chặng đường dài, tôi gặp rất nhiều những sắc đỏ rực rỡ trên các bộ trang phục của người phụ nữ Pà Thẻn chen lẫn giữa màu xanh mê man của núi rừng cao nguyên. Màu đỏ của người Pà Thẻn như muôn ngàn chiếc đèn lồng dẫn dắt tôi vào những ký ức cội nguồn mơ mơ thực thực thực.
Nhìn những bộ quần áo truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn, tôi nhận thấy rất rõ màu đỏ là gam màu chủ đạo trên toàn bộ trang phục, từ quần, váy, áo, khăn, thắt lưng… Trước đây, người Pà Thẻn thường tự trồng cây lanh lấy sợi để dệt thổ cẩm và may quần áo, vài năm trở lại đây họ thường mua chỉ công nghiệp về dệt cho đỡ tốn sức, tốn công. Và liệu ngày mai, ngày kia, thêm ngày mai ngày kia nữa, những cô gái Pà Thẻn thương yêu của tôi có bỏ lại khung cửi bên những biến tấu cuộc đời.
Cầm trên tay những bộ trang phục truyền thống, ngắm nhìn những họa tiết hoa văn nhảy nhót, những sắc màu lảnh lót, khó ai có thể hình dung được những người phụ nữ Pà Thẻn đã phải mất bao đêm, bao tháng, bao ngày, bao nỗi nhớ người lạ người quen, mà dệt lên những sản phẩm thổ cẩm độc đáo của dân tộc mình. Pà Thẻn cứ nhịp nhàng như những con thoi vốn có, lặng lẽ đưa, lặng lẽ sang, lặng lẽ thêu dệt sắc màu. Thời gian để dệt hoàn thiện một bộ trang phục với một người cũng phải mất hơn một tháng. Trong đó, khó làm và mất nhiều thời gian nhất là những họa tiết, hoa văn cầu kỳ. Phụ nữ Pà Thẻn ở My Bắc hầu như ai cũng biết dệt quần áo vì trước khi về nhà chồng, người con gái được mẹ truyền dạy cho kỹ thuật và từng công đoạn dệt, họ phải tự tay dệt cho mình bộ váy áo mới để mặc trong ngày cưới. Bởi vậy mà ngày cưới với một cô gái Pà Thẻn là cả một cuộc đời.
Khi dấu chân tôi ở lại mảnh đất này, cũng là lúc mà người Pà Thẻn dệt quần áo ít dần hơn so với trước, trang phục truyền thống cũng chỉ được mặc vào những ngày lễ, ngày tết, ngày làng có đám cưới và chợ phiên… Điều đó cứ khiến lòng tôi day dứt, nhớ thương cứ ở đâu sục sạo như con lợn đói rừng
2. Ở lại Pà Thẻn đêm ấy, lòng tôi không khỏi rộn ràng bởi sắc màu thổ cẩm, bởi những con thoi lấp loáng qua khung cửa, và trong không gian của vũ điệu than hồng: Nhảy lửa.
Trong tiếng hò reo không ngớt, trong tiếng gõ rộn ràng nhịp nhịp của thầy mo, những sắc màu thổ cẩm như tan chảy. Ảnh: Phạm Hoàng Cương.
Họ cúi người, rồi bật lên... Ảnh: Phạm Quốc Anh.
Păng… păng… păng, tiếng gõ đều đều của thanh tre trong tay thầy cúng mỗi lúc một thôi thúc, các động tác lắc lư của các chàng trai mạnh dần. Họ bắt đầu bật lên, cúi người, nhảy lò cò và tiến ra gần đống lửa. Một nguồn năng lượng nào đó nâng bổng người thanh niên nhảy bật lên bằng cả hai chân và lao vào giữa đống lửa cháy rừng rực. Khi cơ thể đã rung lên, nguồn sức mạnh đã đến dồi dào, vạm vỡ, thì đôi chân như được mách bảo, được kéo đi, trượt trên những đám than hồng.
Càng lúc thanh niên tụ tập xung quanh thầy mo càng nhiều và lần lượt thay nhau ngồi lên chiếc ghế dài. Lòng tôi cũng rung lên, đôi tay hoan hỷ, đôi chân như muốn thoát ra khỏi cơ thể mà nhảy múa. Trong phút chốc chập chừng, trong phút chốc ngập ngừng, tôi cũng bay lên và nhảy vào đống lửa. Vừa nhảy vừa đưa tay bới tung than hồng, như bới tung những con đường đi, như bới tung những nẻo đường về, thỉnh thoảng lại bốc lên một viên than cho vào miệng nếm linh thiêng nguồn cội. Trong tiếng hò reo không ngớt, trong tiếng gõ rộn ràng nhịp nhịp của thầy mo, những sắc màu thổ cẩm như tan chảy. Đâu đây, quanh đây, con thoi vẫn đều đặn tháng ngày qua ô cửa.
Sáng hôm sau, khi những tàn tro của đêm hội nhảy lửa đã bắt đầu nguội lạnh dưới làn sương sớm My Bắc, tôi thấy mình đứng giữa một khoảng không tĩnh lặng đến lạ kỳ. Cái tĩnh lặng của núi rừng không phải là sự im lìm chết chóc, mà là sự hồi sức sau một cơn mê cuồng vĩ đại. Lửa không mất đi, lửa chỉ đang lặn vào trong những thớ thịt, lặn vào trong sắc đỏ rực rỡ của những tà áo vắt ngang qua hàng hiên gỗ. Tôi ngồi lại bên bậc cửa của một ngôi nhà sàn, nhìn mế Sìn đang tỉ mẩn bên khung dệt. Đôi bàn tay gầy guộc, nhăn nheo như vỏ cây đại thụ nhưng dẻo dai đến khó tin. Mỗi nhịp đưa thoi là một tiếng lách cách chạm vào miền ký ức. Mế bảo với tôi bằng thứ tiếng phổ thông chưa thật tròn vành, rằng: "Người Pà Thẻn mình, sinh ra từ lửa, lớn lên từ rừng, và chết đi trong sắc đỏ của thổ cẩm". Câu nói ấy như khía vào tâm trí tôi, khiến tôi chợt nhận ra, bộ trang phục kia không đơn thuần là quần áo để mặc, nó là bản mệnh, là căn cước của một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục trước sự lãng quên của thời gian. Tại sao lại là màu đỏ? Tại sao lại là những hình khối học chi chít, đan cài như một mê cung không lối thoát? Tôi tự hỏi và rồi tự tìm thấy câu trả lời trong chính nhịp thở của vùng cao này. Màu đỏ của người Pà Thẻn không phải màu đỏ rực của son phấn đô kỳ, mà là màu đỏ của máu con chim lửa trong truyền thuyết, là màu của mặt trời mọc sau đỉnh núi Chiêu Lầu Thi, là màu của niềm tin sắt đá rằng dù có đi lạc bao xa trong những cuộc thiên di đằng đẵng, họ vẫn sẽ nhận ra nhau nhờ sắc lửa ấy.
Chừng nào lửa còn cháy, chừng nào thoi còn đưa, thì người Pà Thẻn vẫn còn hiện hữu rực rỡ trên bản đồ văn hóa của nhân loại. Ảnh: Minh Ty.
Nhìn kỹ vào những đường thêu, ta thấy hiện lên cả một hệ sinh thái tâm linh. Những hình tam giác xếp chồng lên nhau, phải chăng là hình ảnh những ngọn núi cao ngất trời mà cha ông họ đã từng băng qua? Những đường kẻ ngang dọc phải chăng là những dòng sông, con suối đã từng tắm mát cho tâm hồn qua bao thế hệ? Mỗi hoa văn là một mã vạch của lịch sử, là một "cuốn sử ký không chữ" được viết bằng kim khâu và sợi chỉ. Mế Sìn dừng tay thoi, chỉ vào một họa tiết hình thoi tinh xảo trên ngực áo: "Đây là mắt của rừng. Rừng nhìn mình đấy, mình làm điều ác rừng biết, mình làm điều thiện rừng hay. Đeo cái này lên ngực để cái tâm mình luôn sáng như lửa." Tôi sững sờ. Té ra, nghệ thuật của người vùng cao bao giờ cũng đi đôi với đạo đức, và cái đẹp bao giờ cũng là cái thiện. Họ dệt nên niềm tin trước khi dệt nên cái đẹp.
Trong văn hóa Pà Thẻn, người con gái trưởng thành được đo bằng độ khéo của bàn tay và sự nhẫn nại bên khung cửi. Tôi hình dung về những đêm đông lạnh giá, bên bếp lửa bập bùng, cô gái trẻ Pà Thẻn ngồi dệt những ước mơ vào từng sợi vải. Mỗi mũi thêu là một lời thề nguyện về sự thủy chung, mỗi đường chỉ là một lời hứa về sự tần tảo. Người ta bảo, muốn biết người phụ nữ Pà Thẻn có hạnh phúc hay không, hãy nhìn vào bộ váy áo của họ. Bộ váy áo càng rực rỡ, càng nhiều hoa văn tinh xảo thì chứng tỏ người đó càng được yêu thương, hoặc giả, họ có một nội lực sống mạnh mẽ đến phi thường. Cái "của hồi môn" ấy không được tính bằng vàng bạc, đá quý, mà tính bằng thời gian và tâm huyết. Nó là sự kết nối âm thầm nhưng bền bỉ giữa mẹ và con, giữa bà và cháu. Một sự trao truyền lặng lẽ như mạch nước ngầm chảy trong lòng núi, cứ thế mà bền bỉ qua hàng thế kỷ.
Nhưng lòng tôi lại chợt dấy lên một nỗi lo âu mơ hồ, như bóng tối đang dần lấn át ánh chiều tà trên đỉnh núi. Khi những sợi chỉ công nghiệp bắt đầu thay thế sợi lanh thủ công, khi những cô gái trẻ thích mặc quần jeans, áo phông vì sự tiện lợi, liệu linh hồn của những đóa hoa rừng này sẽ đi đâu? Hợp tác xã My Bắc ra đời như một nỗ lực "giữ lửa", nhưng liệu sức người có thắng nổi sức cuốn của cơn lốc hiện đại? Nỗi lo ấy cứ ám ảnh tôi suốt chặng đường dài. Vùng cao vốn dĩ là một nơi đầy rẫy những nghịch lý. Nó đẹp đến nao lòng nhưng cũng buồn đến thắt ruột. Cái buồn của những giá trị cũ đang dần lùi vào bóng tối để nhường chỗ cho cái mới lấp lánh nhưng thiếu vắng linh hồn. Tôi nhớ đến những bộ trang phục truyền thống của người phụ nữ Pà Thẻn treo trong các bảo tàng, chúng tĩnh lặng và bất động. Nhưng ở My Bắc này, chúng đang "sống". Chúng đang chuyển động theo nhịp bước chân đi nương, theo nhịp tay dệt, theo cả tiếng cười giòn tan bên bờ suối.
Tôi muốn níu giữ khoảnh khắc này, cái khoảnh khắc mà màu đỏ của người Pà Thẻn vẫn còn đang "nhảy múa" giữa màu xanh của núi rừng. Tôi chợt hiểu ra rằng, mình không phải là người cứu chuộc những thanh âm khung dệt, chính những thanh âm ấy đang cứu chuộc tâm hồn đang dần chai sạn của tôi. Chúng nhắc tôi nhớ rằng, con người ta chỉ thực sự sống khi còn có một cội nguồn để quay về, một bản sắc để tự hào. Trở lại với đêm nhảy lửa, cái đêm mà tôi đã "bay" vào đống than hồng ấy. Giờ đây, khi ngồi giữa ban ngày tĩnh mịch, tôi mới hiểu vì sao mình lại làm thế. Đó không phải là sự bồng bột của một kẻ ham chơi, mà là sự thôi thúc của bản năng, một sự khát khao được hòa tan vào cái thiêng liêng của bộ tộc. Khi chân chạm vào than nóng, nỗi đau không xuất hiện, chỉ có một cảm giác tê dại và thăng hoa. Lửa đã tẩy trần những bụi bặm của phố thị, lửa đã thiêu rụi những hoài nghi vụn vặt trong lòng tôi.
Người Pà Thẻn nhảy lửa để cầu chúc cho mùa màng bội thu, để xua đuổi tà ma và để khẳng định sức mạnh của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. Nhưng trên tất cả, đó là vũ điệu của sự sinh tồn. Chừng nào lửa còn cháy, chừng nào thoi còn đưa, thì người Pà Thẻn vẫn còn hiện hữu rực rỡ trên bản đồ văn hóa của nhân loại. Tiếng gõ của thầy mo vẫn như còn văng vẳng bên tai tôi: Păng... păng... păng... Nhịp điệu ấy là nhịp tim của đất, là tiếng gọi của ngàn xưa vọng về. Nó nhắc nhở rằng, dù thế giới có thay đổi đến đâu, dù những con đường nhựa có kéo dài đến tận cửa nhà sàn, thì những giá trị tâm linh cốt lõi vẫn phải được giữ gìn như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trời chiều My Bắc bảng lảng khói sương. Tôi phải rời đi, nhưng đôi chân cứ chần chừ không muốn bước. Tôi nhìn lên trời cao, những vì sao bắt đầu lấp ló. Chúng lại chuẩn bị cho một đêm canh giữ núi rừng. Ở dưới kia, trong những nếp nhà sàn, bếp lửa lại bắt đầu đỏ lên. Sắc đỏ của lửa bếp hòa quyện với sắc đỏ của những tấm thổ cẩm đang dệt dở, tạo nên một sự ấm áp đến lạ lùng. Tôi mang theo trong hành trang của mình không chỉ là những kỷ niệm, những bức hình, mà là một phần hồn của người Pà Thẻn. Tôi mang theo tiếng lách cách của khung cửi, mùi ngai ngái của sợi vải mới dệt và cả cái nóng ran của những viên than hồng trong lòng bàn tay.
Pà Thẻn ơi, những mùa thoi đưa sẽ không bao giờ chấm dứt. Bởi vì chừng nào con người còn biết yêu cái đẹp, còn biết trân trọng những giá trị cội nguồn, thì màu đỏ ấy vẫn sẽ còn rực cháy. Nó sẽ không chỉ cháy trên những vạt rừng Tây Bắc, mà sẽ cháy mãi trong tâm trí của những kẻ lữ hành nặng lòng với văn hóa dân tộc như tôi. Chia tay My Bắc, chia tay những "đốm lửa hồng" trên bờ vai người phụ nữ Pà Thẻn, tôi biết mình sẽ còn quay trở lại. Quay lại để thấy mình vẫn còn là một phần của núi sông bờ cõi, để thấy máu thịt mình vẫn hòa cùng nhịp đập với những con thoi đưa đẩy buồn vui nơi vùng cao yêu dấu này.
Và khi ngước lên trời cao, tôi sẽ lại thấy muôn ngàn đốm lửa hồng tần ngần choàng vào vai mình, ấm áp và bao dung như tấm lòng người Pà Thẻn. Một vòng tròn bất tận của lửa, của tơ và của những tấm lòng nhân hậu vẫn đang ngày đêm dệt nên bài ca về sự sống trường tồn trên những đỉnh cao mờ mây mờ sương.

























