Kỳ nữ Kim Cương là cách vinh danh quen thuộc mà công chúng dành cho Nghệ sĩ Nhân dân Kim Cương. Kỳ nữ Kim Cương sinh ngày 25/1/1937 trong một gia tộc cải lương nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn, với người cha là ông bầu Nguyễn Phước Cương và người mẹ là Nghệ sĩ Nhân dân Bảy Nam.
Tọa đàm "Kỳ nữ Kim Cương với thoại kịch miền Nam" được tổ chức ngày 5/2. Ảnh: Thanh Hiệp.
Cuộc đời kỳ nữ Kim Cương có thể điểm lại bằng những cột mốc đáng nhớ: 18 ngày tuổi, Kim Cương đã được bồng lên sân khấu cải lương xuất hiện trước hàng ngàn khán giả. Vừa qua tuổi dậy thì, Kim Cương đã được soạn giả Duy Lân đo ni đóng giày cho vai nữ chính trong vở “Giai nhân và ác quỷ” để có được biệt danh “kỳ nữ” nức nở thiên hạ.
18 tuổi, chỉ với bộ phim đầu tiên “Lòng nhân đạo”, Kim Cương đã chiếm lĩnh màn bạc thời điện ảnh Việt chập chững khai sinh. 19 tuổi, Kim Cương thành lập đoàn kịch nói đầu tiên của Sài Gòn. Năm 35 tuổi, Kim Cương mới bước lên xe hoa bằng một đám cưới giản dị. Năm 41 tuổi, Kim Cương đối mặt với sự cố đứa con trai đầu lòng Trần Trọng Gia Vinh 5 tuổi bị bắt cóc, chấn động dư luận mùa đông 1978. Từ tuổi 60, kỳ nữ Kim Cương là một nhà vận động uy tín của các chương trình từ thiện...
Với bút danh Hoàng Dũng, kỳ nữ Kim Cương đã viết những kịch bản ăn khách cho Đoàn kịch nói Kim Cương như “Lá sầu riêng”, “Dưới hai màu áo”, “Nó là con tôi”, “Người tình trễ xe”, “Bông hồng cài áo”, “Trà Hoa Nữ”…
Kỳ nữ Kim Cương thời thanh xuân. Ảnh: TL.
Tài năng của kỳ nữ Kim Cương không chỉ nằm ở sự hóa thân trong mỗi vai diễn. Tại tọa đàm “Kỳ nữ Kim Cương với thoại kịch miền Nam” do Hội Sân khấu TP.HCM phối hợp Hội Sân khấu TP.HCM tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định phong cách kịch nói của kỳ nữ Kim Cương có những tác động sâu rộng đến đời sống cộng đồng.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho rằng: Những vở kịch nói Kim Cương đã lưu giữ ký ức đô thị bằng ngôn ngữ, giọng nói và cảm xúc. Đó là giọng nói của Sài Gòn: giản dị, thẳng thắn, giàu lòng trắc ẩn. Đó là cách người Sài Gòn đối diện với bi kịch không bằng sự bi lụy mà bằng tính nhân văn, có khi bằng một câu nói “cà rỡn”, một nụ cười dịu dàng làm nhẹ đi những đau đớn, những xung đột gay gắt. Lời thoại trong các vở kịch gần gũi, đậm khẩu khí Nam Bộ. Đó là thứ ngôn ngữ không trau chuốt cầu kỳ nhưng giàu sức gợi cảm xúc, giúp khán giả nhận ra giọng nói quen thuộc của đô thị mình đang sống. Ngôn ngữ ấy khiến sân khấu Kim Cương không tạo khoảng cách với công chúng.
Đến với kịch nói Kim Cương, khán giả không chỉ “xem” kịch, mà như đang nghe lại những câu chuyện của chính mình, của gia đình mình, của xã hội mình từng trải qua. Chính điều này làm cho ký ức đô thị trên sân khấu trở nên sống động và tồn tại bền bỉ. Những buổi tối đi xem kịch, những giọt nước mắt rơi trong im lặng của khán giả, những tràng vỗ tay không dứt, cả những khoảng lặng của mỗi người khi rời khỏi rạp hát... tất cả hợp thành một trải nghiệm đô thị đã từng rất quen thuộc, rất Sài Gòn.
Nhìn từ góc độ văn hóa đô thị, kỳ nữ Kim Cương là một trong những người có đóng góp quan trọng trong việc lưu giữ ký ức tinh thần của đô thị Sài Gòn. Sân khấu của bà thể hiện những lát cắt đời sống, những tâm trạng xã hội và những câu hỏi đạo đức mà đô thị này từng đối diện. Có thể nói, sân khấu kịch nói Kim Cương là nơi ký ức đô thị Sài Gòn được kết tinh thành nghệ thuật. Ở đó, con người Sài Gòn đã từng cười, khóc, suy ngẫm về chính mình qua những câu chuyện rất đời, rất thật.
Kỳ nữ Kim Cương cũng là một nhà hoạt động từ thiện nổi tiếng. Ảnh: TL.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu nhấn mạnh, trong dòng chảy lịch sử sân khấu miền Nam, giá trị di sản thoại kịch Kim Cương không nằm ở việc bảo tồn một mô hình sân khấu cụ thể, mà ở việc nhận diện và gìn giữ một lớp ký ức văn hóa của các thế hệ thị dân. Đó là ký ức về cách một đô thị từng tự kể câu chuyện của mình, từng suy ngẫm về chiến tranh, về gia đình, về người phụ nữ, về nhân tính con người thông qua nghệ thuật kịch nói. Hiện nay, khi những không gian biểu diễn kịch nói, cải lương đang vắng dần, thậm chí có nguy cơ biến mất, trong nhịp sống đô thị ngày càng gấp gáp, cư dân ngày càng biến động, con người dường như ngày càng xa nhau... những ký ức ấy càng trở nên mong manh.
Việc nhìn nhận sân khấu kịch nói Kim Cương như một di sản đô thị không chỉ mang ý nghĩa tri ân một nghệ sĩ, một đoàn hát hay một giai đoạn sân khấu, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm gìn giữ ký ức tinh thần của đô thị, thứ ký ức không nằm trong bảo tàng, mà sống trong ký ức cộng đồng. Đó là loại di sản không hiện hữu bằng hình khối, không đo đếm bằng niên đại, mà tồn tại trong ký ức tập thể của người xem, trong cảm xúc đã từng được cộng hưởng và chia sẻ giữa sân khấu và khán giả.

























