| Hotline: 0983.970.780

Hợp tác quốc tế vì khát vọng đại dương xanh

Thứ Hai 22/06/2026 , 16:01 (GMT+7)

Báo Nông nghiệp và Môi trường trân trọng giới thiệu bài viết của Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam Ramla Khalidi và Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken.

Không chỉ phác họa nên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, 3.200 km đường bờ biển dọc Việt Nam từ lâu đã trở thành huyết mạch của quốc gia. Giờ đây, đất nước đang đứng trước bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển kinh tế biển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mới đây đã nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển xanh, bảo vệ môi trường, bảo vệ đại dương và ứng phó biến đổi khí hậu phải trở thành một trụ cột của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Tầm nhìn này phản ánh thực tế rõ ràng: nền kinh tế phát triển thịnh vượng không thể đánh đổi bằng môi trường tự nhiên.

Đối tác quốc tế đánh giá Việt Nam đứng trước bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển kinh tế biển. Ảnh: Dũng Nhân.

Đối tác quốc tế đánh giá Việt Nam đứng trước bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển kinh tế biển. Ảnh: Dũng Nhân.

Tuy nhiên, trước những mục tiêu tăng trưởng kinh tế đầy tham vọng, vùng biển Việt Nam phải chịu sức ép ngày càng lớn. Điều này đặt ra câu hỏi cấp thiết:  làm thế nào để vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa bảo vệ nguồn tài nguyên biển và tăng cường khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu?

Trên thực tế, những sức ép này hiện hữu ngày càng rõ nét. Các kế hoạch phát triển điện gió ngoài khơi, thăm dò và khai thác dầu khí, đánh bắt thủy sản quy mô lớn hay vận tải biển,… đều sử dụng chung một không gian biển. Nếu thiếu quy hoạch không gian và cơ chế điều phối hiệu quả, nguy cơ tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển, làm giảm sức hấp dẫn đầu tư và cản trở quá trình phát triển kinh tế biển bền vững là điều khó tránh khỏi.

Hiện nay, diện tích khu bảo tồn biển của Việt Nam chiếm chưa đến 1% diện tích vùng biển quốc gia, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 6% đã đề ra.

Huy động kinh nghiệm quốc tế và các quan hệ đối tác chiến lược

Để giải quyết những thách thức phức tạp này, Việt Nam không thể hành động một mình. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy quản trị biển hiệu quả chỉ có thể đạt được khi có sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, giới khoa học và cộng đồng địa phương. Mô hình quản lý đại dương tổng hợp của Na Uy là ví dụ điển hình về cách tiếp cận dựa trên khoa học, điều phối đa ngành và đồng thuận xã hội, nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo tồn tài nguyên biển.

Quan hệ Đối tác Chiến lược Xanh Việt Nam - Na Uy ký ngày 14/4/2026 là minh chứng rõ nét cho cách tiếp cận mang tính hợp tác này. Thông qua khuôn khổ đối tác, Việt Nam có thể tiếp cận kinh nghiệm quản trị biển sâu rộng của Na Uy thông qua các tổ chức nghiên cứu hàng đầu như Viện Nghiên cứu Nước Na Uy (NIVA), Viện Nghiên cứu Biển (IMR) và Viện Khí tượng Na Uy (MET). Đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam nghiên cứu và ứng dụng các thông lệ quản trị đại dương tiên tiến phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.

Bài học của Na Uy trong phát triển năng lượng gió ngoài khơi, chuyển đổi hàng hải xanh và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao trên biển có thể mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho phát triển kinh tế biển Việt Nam. Đồng thời, thông qua cơ chế hợp tác Nam - Nam và ba bên, Việt Nam cũng đang từng bước chia sẻ những sáng kiến, kinh nghiệm của mình với các nước đang phát triển; qua đó, thúc đẩy trao đổi tri thức, nâng cao năng lực quản trị và hoàn thiện các mô hình quy hoạch không gian biển phù hợp với điều kiện của từng quốc gia.

Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken (bên phải) và Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam Ramla Khalidi (bên trái) ký kết thỏa thuận khởi động sáng kiến 1,2 triệu USD thúc đẩy kinh tế biển, ngày 14/5 tại Hà Nội. Ảnh: UNDP.

Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken (bên phải) và Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam Ramla Khalidi (bên trái) ký kết thỏa thuận khởi động sáng kiến 1,2 triệu USD thúc đẩy kinh tế biển, ngày 14/5 tại Hà Nội. Ảnh: UNDP.

Kiến tạo nền tảng quản trị biển bền vững

Trong 4 năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong thúc đẩy quản trị đại dương bền vững.

Từ năm 2022, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình “Quy hoạch không gian biển vì đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu” của UNDP do Chính phủ Na Uy tài trợ, Việt Nam đã đặt nền móng cho quy hoạch biển bền vững. Quốc hội thông qua Quy hoạch không gian biển Quốc gia năm 2024, tiếp đó là việc Chính phủ ban hành Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ năm 2025, là những bước ngoặt quan trọng, cung cấp khung pháp lý toàn diện để hài hòa giữa bảo tồn biển và phát triển kinh tế.

Một đại dương khỏe mạnh, giàu sức sống và tiếp sức cho sự thịnh vượng của nhiều thế hệ mai sau. Ảnh: UNDP.

Một đại dương khỏe mạnh, giàu sức sống và tiếp sức cho sự thịnh vượng của nhiều thế hệ mai sau. Ảnh: UNDP.

Chương trình cũng hỗ trợ các cơ quan Trung ương và địa phương tăng cường tiếp cận liên ngành trong quản trị biển thông qua nhiều sáng kiến như Nghiên cứu Kinh tế biển xanh 2.0, Nghiên cứu ban đầu về chỉ số Kinh tế biển xanh cấp tỉnh (PBEI) và chia sẻ 12 bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng quy hoạch không gian biển của Việt Nam.

Tại các địa phương ven biển như Quảng Ninh, Hải Phòng và Khánh Hòa, nhiều mô hình thí điểm đã cho thấy hiệu quả rõ nét của quản lý biển bền vững. Công tác quy hoạch phân vùng biển cho Vịnh Nha Trang và Khu bảo tồn biển Nha Trang, các hoạt động thử nghiệm phục hồi san hô tại Bạch Long Vĩ, cùng việc nghiên cứu các mô hình kinh tế biển xanh (BBM) đang góp phần phục hồi hệ sinh thái biển và tạo động lực cho các doanh nghiệp xanh phát triển. Hàng trăm cán bộ địa phương được hỗ trợ nâng cao năng lực, hình thành mạng lưới chuyên gia, sẵn sàng đóng góp cho tiến trình quản trị biển hiệu quả và phát triển kinh tế biển xanh trong giai đoạn tiếp theo.

Từ kế hoạch đến hành động

Tiếp nối những kết quả đã đạt được, Chính phủ Na Uy cam kết bổ sung thêm 12 triệu NOK (hơn 1,2 triệu USD) cho giai đoạn II của Chương trình, với trọng tâm là biến kế hoạch thành hành động. Trong giai đoạn 2026-2029, chúng tôi sẽ đồng hành cùng Việt Nam tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, không gian và tài chính cho quá trình chuyển đổi xanh bền vững, thông qua ba nhóm giải pháp chính:

Thứ nhất, hỗ trợ chính quyền địa phương tại 21 tỉnh, thành ven biển đẩy nhanh triển khai Quy hoạch không gian biển. Theo đó, Chương trình sẽ hỗ trợ cụ thể hóa quy hoạch ở cấp quốc gia thành các kế hoạch cụ thể tại địa phương, đồng thời tăng cường năng lực thực thi. Đặc biệt, Chương trình sẽ chú trọng mở rộng các nỗ lực bảo tồn biển và thúc đẩy ứng dụng Chỉ số Kinh tế biển xanh cấp tỉnh nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững.

Thứ hai, xây dựng các Nền tảng Điều phối Biển liên ngành ở cấp Trung ương và địa phương. Các nền tảng này sẽ quy tụ đại diện cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia và các ngành kinh tế biển như thủy sản, dầu khí, logistics hàng hải và năng lượng tái tạo để cùng tham gia hoạch định việc sử dụng không gian biển. Thông qua mô phỏng các kịch bản quy hoạch đa mục đích bằng công nghệ dựa trên hệ thống thông tin địa lý (GIS) tiên tiến và chia sẻ dữ liệu liên ngành, các nền tảng điều phối này sẽ góp phần chuyển đổi cách tiếp cận trong quản trị biển: từ cạnh tranh không gian sang hợp tác vì một tầm nhìn phát triển biển hài hòa, thống nhất và bền vững.

Thứ ba, thúc đẩy huy động nguồn lực tư nhân. Nguồn lực nhà nước khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư cho các mục tiêu phát triển kinh tế biển đầy tham vọng của Việt Nam. Vì vậy, Chương trình sẽ hỗ trợ tăng cường các mô hình đối tác công - tư, nâng cao khả năng chia sẻ dữ liệu biển và phát triển các khu vực biển sẵn sàng đón nhận đầu tư. Qua đó, tạo điều kiện thu hút nguồn vốn cho điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản bền vững và các ngành kinh tế biển mới. Chúng tôi cũng kỳ vọng góp phần thúc đẩy các cơ chế tài chính mới, như trái phiếu xanh và thị trường carbon xanh, mở ra thêm cơ hội đầu tư cho phát triển đại dương bền vững.

Khánh Hòa có cơ hội thử nghiệm mô hình 'Đa mục tiêu' (Điện gió, thủy sản và du lịch) nhờ tiềm năng gió tốt. Ảnh minh họa: Lê Minh/TTXVN.

Khánh Hòa có cơ hội thử nghiệm mô hình 'Đa mục tiêu' (Điện gió, thủy sản và du lịch) nhờ tiềm năng gió tốt. Ảnh minh họa: Lê Minh/TTXVN.

Việc khởi động giai đoạn mới của Chương trình thể hiện cam kết chung nhằm chuyển đổi không gian biển của Việt Nam thành động lực tăng trưởng kinh tế bền vững và có khả năng chống chịu cao. Cân bằng giữa phát triển nhanh và bảo tồn biển không phải là điều dễ dàng. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, đất nước cần “mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia”. Những nỗ lực đang triển khai hôm nay chính là bước đi cụ thể để hiện thực hóa tầm nhìn đó.

Với quyết tâm chính trị mạnh mẽ,  kinh nghiệm quốc tế và tinh thần đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân, Việt Nam  đang có một cơ hội tốt  để chứng minh rằng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường hoàn toàn có thể cùng song hành. 

Thước đo đích thực của “Khát vọng đại dương” sẽ không chỉ là những con số tăng trưởng, mà còn là di sản  để lại cho các thế hệ tương lai: một đại dương khỏe mạnh, giàu sức sống và tiếp sức cho sự thịnh vượng của nhiều thế hệ mai sau.

12 bài học quốc tế về Quy hoạch không gian biển Quốc gia

Quy hoạch không gian biển (Marine Spatial Planning - MSP) được nhiều nước phát triển xem là một công cụ quản trị hiện đại và hiệu quả. MSP là quá trình phân tích, phân bổ và điều phối các hoạt động của con người trên không gian biển nhằm hiện thực hóa đồng thời các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường.

Mặc dù các khu bảo tồn biển đã xuất hiện từ nhiều thập kỷ trước như một công cụ bảo tồn tài nguyên, MSP đã phát triển vượt xa cách tiếp cận đơn thuần về bảo tồn. Ngày nay, nhiều quốc gia áp dụng MSP như một giải pháp quản trị tổng hợp nhằm xử lý các mâu thuẫn ngày càng phức tạp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển.

Tại Việt Nam, Chương trình hỗ trợ xây dựng Quy hoạch không gian biển Quốc gia đã đúc kết 12 bài học quan trọng cho Việt Nam trong quản trị biển hiện đại, tập trung vào 3 nhóm vấn đề chính:

Năng lực và phối hợp

- Nhận thức MSP là quá trình bền bỉ: Quy hoạch không gian biển không phải là một nhiệm vụ thực hiện một lần, mà là quá trình liên tục cập nhật, điều chỉnh và hoàn thiện dựa trên thực tiễn triển khai.

- Thu hút và điều phối hiệu quả các bên liên quan: Sự tham gia thực chất của các bên liên quan là yếu tố then chốt bảo đảm chất lượng và tính khả thi của quy hoạch.

- Nâng cao năng lực thể chế cho MSP: Cần liên tục xây dựng đội ngũ chuyên môn, hoàn thiện cơ chế phối hợp và nâng cao năng lực quản lý để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quản trị biển.

- Xây dựng và duy trì quan hệ đối tác liên ngành trong nước và quốc tế: Hợp tác tăng cường chia sẻ kinh nghiệm, dữ liệu và nguồn lực cho quá trình quy hoạch.

Quá trình lập bản đồ và thống kê dữ liệu

- Khắc phục các khoảng trống thông tin và hạn chế về dữ liệu: Dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy cần được ưu tiên ngay từ giai đoạn đầu.

- Vận hành hiệu quả hệ thống phân loại vùng biển: Các tiêu chí và phương pháp phân vùng cần xây dựng rõ ràng, thống nhất.

- Bảo đảm tính nhất quán trong công tác lập bản đồ giữa các cấp: Dữ liệu và bản đồ cần đồng bộ từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh, bảo đảm tương thích với tiêu chuẩn quốc tế.

- Áp dụng lập bản đồ rủi ro để hỗ trợ phân vùng không gian biển: Giúp nâng cao chất lượng các quyết định phân vùng và quản lý biển.

Thực hiện và bảo đảm tính phù hợp

- Đặt MSP trong khuôn khổ chính sách hỗ trợ rõ ràng: Bảo đảm tính hiệu lực và khả năng thực thi.

- Bảo đảm sự phù hợp với các quy hoạch và chiến lược liên quan: MSP cần liên kết chặt chẽ với các quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch vùng và các chiến lược quốc gia nhằm tránh chồng chéo và mâu thuẫn.

- Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các khu vực phân vùng mới nổi: Điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao hay các mô hình kinh tế biển mới cần hỗ trợ bằng khung pháp lý rõ ràng và phù hợp.

- Thiết lập cơ chế cấp phép và tuân thủ hiệu quả: Thủ tục cấp phép minh bạch, hệ thống giám sát và thực thi mạnh mẽ giúp bảo đảm các mục tiêu của quy hoạch thực hiện trên thực tế.

Quỳnh Chi - Kiều Chi - Phương Linh

Xem thêm
Thủ tướng: Tuyên Quang phải nỗ lực gấp 2-3 lần để bứt phá tăng trưởng

Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Tuyên Quang nỗ lực gấp 2-3 lần để đạt tăng trưởng hai con số, đồng ý chủ trương đầu tư cao tốc Tuyên Quang-Hà Giang 4 làn.

Bình luận mới nhất

Hợp tác quốc tế vì khát vọng đại dương xanh