Chia sẻ tại Hội thảo “Công nghệ mới trong dự báo và cảnh báo sớm thiên tai” do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Khí tượng Thủy văn và Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai tổ chức ngày 18/3, trong câu chuyện về hạn hán, PGS.TS Hà Hải Dương, đại diện Viện Nước tưới tiêu và Môi trường (Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam) nhìn nhận, đó không còn là những đợt thiếu nước mang tính thời điểm mà đang trở thành một dạng rủi ro ngày càng hiện hữu, len lỏi vào từng vụ sản xuất, từng dòng chảy và cả đời sống của người dân.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Khí tượng thủy văn, Báo Nông nghiệp và Môi trường, Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai chủ trì Hội thảo “Công nghệ mới trong dự báo và cảnh báo sớm thiên tai”. Ảnh: Trung Hiếu.
“Những giai đoạn hạn khốc liệt như 2014-2016 hay 2019-2020 không chỉ làm cạn kiệt sông hồ mà còn cho thấy cách chúng ta ứng phó vẫn còn nặng về ‘chữa cháy’, thiếu đi những công cụ dự báo đủ sớm và đủ sâu để chủ động thích ứng”, PGS.TS Hà Hải Dương phân tích.
Từ thực tế đó, ông Dương cho rằng cần một sự chuyển dịch căn bản từ tư duy “quản lý thiên tai” sang “quản lý rủi ro thiên tai”. Nghĩa là không đợi khi hạn xảy ra mới tìm cách đối phó mà phải theo dõi, nhận diện sớm nguy cơ và đưa ra các quyết định điều hành ngay từ đầu vụ, thậm chí trước cả khi những dấu hiệu hạn hán trở nên rõ ràng.
Trong bối cảnh đó, công nghệ, đặc biệt là ảnh viễn thám và trí tuệ nhân tạo, đang mở ra một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Thay vì chỉ dựa vào số liệu đo đạc rời rạc tại một vài điểm, các hệ thống hiện nay có thể “quan sát” toàn bộ không gian rộng lớn, từ quy mô vùng đến từng lưu vực sông, từng hồ chứa. Ảnh vệ tinh cho phép theo dõi liên tục lượng mưa, độ ẩm đất, nhiệt độ bề mặt, thậm chí cả tình trạng sinh trưởng của cây trồng. Những dữ liệu ấy, khi được tích hợp và xử lý bằng các mô hình toán học và thuật toán học máy, sẽ tạo thành một bức tranh gần như thời gian thực về nguồn nước.
PGS.TS Hà Hải Dương chia sẻ về vấn đề giám sát và dự báo nguồn nước nhằm ứng phó với hạn hán dựa trên ảnh viễn thám và công nghệ AI. Ảnh: Trung Hiếu.
PGS.TS Hà Hải Dương cho biết, các chỉ số như Chỉ số lượng mưa chuẩn hóa(SPI), SRI hay độ ẩm đất sẽ trở thành “ngôn ngữ” để đọc được trạng thái của hạn hán. Khi những chỉ số này được theo dõi liên tục theo các mốc thời gian khác nhau từ 1 tháng, 3 tháng đến 6 tháng…, người làm quản lý có thể nhận diện sớm xu hướng thiếu nước, từ đó điều chỉnh kế hoạch sản xuất, phân bổ nguồn nước hợp lý hơn.
Điểm đáng chú ý là các hệ thống giám sát hiện nay không dừng ở việc “nhìn thấy” mà còn có thể “dự báo”. Từ dữ liệu khí hậu toàn cầu, mô hình khu vực, kết hợp với thông tin viễn thám và các thuật toán AI, việc dự báo nguồn nước đã có thể thực hiện ở nhiều cấp độ từ ngắn hạn vài tuần, trung hạn vài tháng cho đến dự báo mùa. Điều này đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, khi mỗi quyết định xuống giống hay chuyển đổi cây trồng đều phụ thuộc rất lớn vào khả năng có nước trong tương lai.
“Không chỉ dừng lại ở dự báo, các hệ thống hỗ trợ ra quyết định còn giúp trả lời những câu hỏi rất cụ thể như với lượng nước hiện có, có thể gieo trồng bao nhiêu diện tích, hay nên ưu tiên khu vực nào, hay hồ chứa cần vận hành ra sao để vừa đảm bảo cấp nước, vừa duy trì an toàn. Những thông tin ấy chính là cầu nối để khoa học đi vào thực tiễn, giúp người quản lý và người nông dân không còn đoán định mà có cơ sở rõ ràng để hành động”, PGS.TS Hà Hải Dương chia sẻ.
Theo dõi tình trạng cháy rừng bằng công nghệ viễn thám. Ảnh: Cục Viễn thám Quốc gia.
Tuy vậy, chuyên gia cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng những giải pháp này vẫn còn nhiều thách thức. Các công cụ hiện nay còn phân tán, dữ liệu chưa được kết nối đồng bộ, trong khi yêu cầu xử lý thông tin ngày càng lớn và đòi hỏi gần như tức thời. Hạ tầng công nghệ, khả năng lưu trữ và phân tích dữ liệu lớn, cũng như nguồn nhân lực về công nghệ thông tin vẫn là những “nút thắt” cần được tháo gỡ.
Nhưng ở một góc nhìn lạc quan, PGS.TS Hà Hải Dương cho rằng chính những thách thức đó lại mở ra cơ hội để thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước. Khi các hệ thống được tích hợp, dữ liệu được chia sẻ và công nghệ như viễn thám, AI, IoT được khai thác hiệu quả, việc giám sát và dự báo nguồn nước sẽ không còn là công việc của riêng các nhà khoa học, mà trở thành một phần thiết yếu trong điều hành sản xuất và phát triển bền vững.



















