Siết chặt quản lý mã số vùng trồng để giữ thị trường
Thứ Bảy 16/05/2026 , 10:58 (GMT+7)
Nghị định 38/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu quản lý chặt hơn đối với mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, từ truy xuất nguồn gốc đến giám sát quy trình sản xuất.
Mã số vùng trồng từng được xem là “tấm vé thông hành” để nông sản Việt bước vào các thị trường xuất khẩu lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều thị trường ngày càng siết chặt truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, việc được cấp mã số không còn là đích đến cuối cùng. Điều khó hơn hiện nay là duy trì được tiêu chuẩn sản xuất ổn định để giữ mã số và giữ thị trường xuất khẩu.
Tại Hội nghị triển khai Nghị định thư đối với bưởi tươi, chanh tươi xuất khẩu sang Trung Quốc và Nghị định 38 của Chính phủ về quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, nhiều nội dung liên quan đến quản lý dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng đã được phổ biến tới các địa phương và doanh nghiệp.
Theo quy định mới, việc quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được thực hiện đồng bộ hơn từ khâu cấp mã, cập nhật dữ liệu đến giám sát hoạt động trong quá trình sản xuất và xuất khẩu.
Các địa phương sẽ phải chịu trách nhiệm quản lý thông tin vùng trồng, cập nhật dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc và xử lý các trường hợp vi phạm quy định của nước nhập khẩu.
PV: (Ông Hoàng Trung – Thứ trưởng Bộ NN&MT)
“Theo yêu cầu của Nghị định 38 của mình và theo yêu cầu nghị định thư thì các cơ quan chuyên ngành của địa phương phải tổ chức đi và đề nghị các doanh nghiệp, người dân làm mã số vùng trồng, hay nói là thiết lập mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Bởi vì đây là điều kiện quyết và phải có mã số vùng trồng mới xuất khẩu được.”
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng sẽ giúp nâng khả năng truy xuất nguồn gốc, đồng thời hạn chế tình trạng sử dụng mã số không đúng quy định.
Thực tế, hiện nay, nhiều địa phương đã xây dựng hàng trăm mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu trái cây. Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp và hợp tác xã, khó khăn lớn nhất hiện nay là duy trì đồng bộ quy trình sản xuất sau khi được cấp mã. Từ diện tích vùng trồng, sản lượng, nhật ký canh tác đến quản lý thuốc bảo vệ thực vật đều phải được cập nhật và kiểm soát thường xuyên.
Theo các chuyên gia, chỉ cần một lô hàng vi phạm quy định về kiểm dịch hoặc truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng hoàn toàn có thể bị cảnh báo hoặc tạm dừng hoạt động.
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu kỹ thuật, việc quản lý mã số vùng trồng hiện không còn là câu chuyện riêng của cơ quan quản lý mà đòi hỏi sự phối hợp giữa địa phương, doanh nghiệp và người dân.
PVÔng Đặng Phúc Nguyên – Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam:
“Trung Quốc hiện nay họ cứ 2-3 năm họ thay đổi một lệnh. Trước đây họ sử dụng lệnh 248, 249 thì bây giờ chuẩn bị triển khai lệnh 280, họ nâng mức kiểm tra dư lượng rồi quản lý vùng trồng nghiêm khắc hơn.”
Việc siết chặt quản lý mã số vùng trồng không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu mà còn hướng tới thay đổi cách tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng minh bạch và chuyên nghiệp hơn. Khi dữ liệu vùng trồng, quy trình canh tác và truy xuất nguồn gốc quản lý chặt, áp lực đối với người sản xuất và doanh nghiệp sẽ lớn hơn, nhưng đây cũng là điều kiện bắt buộc để nông sản Việt nâng chất lượng và đi đường dài trên thị trường xuất khẩu.