Trong những năm qua, công tác quản lý khoáng sản tại Thanh Hóa vào nề nếp, không những khơi thông nguồn lực để phát triển kinh tế mà còn ngăn chặn khai thác trái phép.
Ngay sau khi Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 có hiệu lực, UBND tỉnh Thanh Hóa đã triển khai đồng bộ đến cơ quan và doanh nghiệp. Nhờ đó, công tác quản lý và khai thác từng bước thay đổi, nhận thức theo hướng chủ động, minh bạch và trách nhiệm.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trao đổi với ông Lê Văn Tiến, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa.
* Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 có nhiều điểm mới về phân cấp quản lý, minh bạch thác và bảo vệ tài nguyên. Thanh Hóa đã triển khai thực hiện luật này như thế nào để bảo đảm vừa đúng quy định, vừa phù hợp thực tiễn địa phương, thưa ông?
- Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 có nhiều điểm mới quan trọng, đặc biệt là về phân cấp quản lý, minh bạch hóa hoạt động khai thác và nâng cao trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đây là bước hoàn thiện thể chế rất cần thiết trong bối cảnh yêu cầu quản lý tài nguyên ngày càng chặt chẽ, đồng thời phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Ngay sau khi Luật có hiệu lực, Sở đã chủ động tham mưu cho UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Kế hoạch số 1571/QĐ-UBND ngày 23/5/2025 Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Địa chất và Khoáng sản số 54/2024/QH15 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Kế hoạch khắc phục các tồn tại, hạn chế trong quản lý, cấp phép hoạt động khoáng sản để giải quyết tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng trên địa bàn trên địa bàn tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 2595/QĐ-UBND ngày 29/7/2025 để triển khai thực hiện đồng bộ. Tổ chức rà soát toàn bộ hệ thống giấy phép khai thác còn hiệu lực, các khu vực khoanh định không đấu giá, các hồ sơ đang giải quyết để bảo đảm phù hợp với quy định mới, nhất là các tiêu chí về đấu giá quyền khai thác và điều kiện nâng công suất.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có hơn 300 mỏ khoáng sản đang còn hiệu lực, trong đó phần lớn là mỏ vật liệu xây dựng (VLXD) thông thường phục vụ trực tiếp nhu cầu phát triển hạ tầng. Với quy mô và số lượng mỏ lớn như vậy, nếu không có cơ chế quản lý chặt chẽ, minh bạch thì rất dễ phát sinh bất cập. Vì vậy, xác định triển khai Luật không chỉ là cập nhật quy định mới, mà là dịp để tái cấu trúc lại toàn bộ công tác quản lý khoáng sản theo hướng chuyên nghiệp hơn.
Khai thác đá ở Thanh Hóa đi vào nề nếp

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện quy trình nội bộ và phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp, các ngành. Vai trò quản lý của chính quyền địa phương trong giám sát thực địa được tăng cường, bảo đảm không buông lỏng quản lý sau cấp phép.
Thứ hai, đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin các khu vực đủ điều kiện đưa ra đấu giá đều được công bố theo quy định. Điều này tạo môi trường đầu tư bình đẳng, hạn chế cơ chế xin - cho và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp.
Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát gắn với ứng dụng công nghệ. Các doanh nghiệp khai thác được yêu cầu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lắp đặt trạm cân, camera giám sát sản lượng, kê khai và nộp nghĩa vụ tài chính đúng quy định. Công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện thường xuyên, kịp thời chấn chỉnh sai phạm.
* Theo ông, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến, cải thiện cụ thể ra sao, đặc biệt trong kiểm soát khai thác, đấu giá quyền khai thác?
- Kể từ khi Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 được áp dụng, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn Thanh Hóa đã có những chuyển biến rõ rệt, cả về chất lượng điều hành lẫn hiệu quả thực tiễn. Trước hết, về kiểm soát hoạt động khai thác, việc quản lý không còn dừng lại ở khâu cấp phép mà được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời dự án mỏ. Với quy mô số lượng mỏ của tỉnh lớn như vậy, tỉnh chú trọng giám sát sản lượng khai thác thực tế, yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghiêm việc lắp đặt trạm cân, hệ thống camera giám sát tại mỏ; thực hiện báo cáo định kỳ, kê khai đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
Công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện thường xuyên và có trọng tâm, trọng điểm. Những trường hợp vi phạm về khai thác vượt công suất, ngoài ranh giới mỏ, chậm thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường đều bị xử lý nghiêm theo quy định. Nhờ đó, kỷ cương trong hoạt động khoáng sản được siết chặt hơn so với giai đoạn trước.
Về đấu giá quyền khai thác khoáng sản, Luật mới đã tạo hành lang pháp lý minh bạch và chặt chẽ hơn nên đã hạn chế đáng kể cơ chế xin - cho, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp sau khi trúng đấu giá. Các nhà đầu tư buộc phải tính toán kỹ hiệu quả khai thác, thực hiện đúng cam kết về tiến độ và nghĩa vụ tài chính, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Chuyển biến lớn nhất sau khi Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 có hiệu lực là tư duy quản lý đã thay đổi theo hướng chủ động, minh bạch và trách nhiệm hơn. Quản lý khoáng sản không chỉ nhằm khai thác phục vụ phát triển kinh tế, mà còn phải bảo đảm công bằng, hiệu quả và bền vững lâu dài.
Khai thác đất tại Thanh Hóa
Khai thác đá tại xã Quý Lộc

* Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản 2024 được đánh giá là cú hích quan trọng để bình ổn thị trường VLXD. Ông nhìn nhận như thế nào về những tác động tích cực của Nghị quyết này đối với chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người dân, thưa ông?
- Đối với bình ổn thị trường VLXD, đây là nhiệm vụ rất quan trọng trong bối cảnh Thanh Hóa đang triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn. Nhu cầu đất, đá, cát xây dựng mỗi năm lên tới hàng chục triệu mét khối. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua có thời điểm nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu, đặc biệt là cát xây dựng. Toàn tỉnh hiện có nhiều mỏ được cấp phép, tuy nhiên công suất khai thác hiện chỉ đáp ứng khoảng 76,2% nhu cầu về đá, 52,4% nhu cầu đất san lấp và chỉ khoảng 3,7% nhu cầu cát xây dựng, dẫn tới thực trạng thiếu hụt nguồn cung vật liệu cho các dự án lớn.
Ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật Địa chất và Khoáng sản, Chính phủ đã bổ sung và luật hóa các quy định đặc thù trong khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường tại Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025. Nghị quyết này là giải pháp mang tính đột phá trong triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản. Nghị quyết không những tháo gỡ các khó khăn về thủ tục, cơ chế khoanh định khu vực không đấu giá phục vụ công trình trọng điểm mà còn tạo điều kiện linh hoạt hơn trong xử lý các trường hợp chuyển tiếp.
Trên cơ sở đó, Thanh Hóa đã phê duyệt 20 khu vực mỏ vào danh mục khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản để cung cấp vật liệu xây dựng cho các công trình dự án theo cơ chế đặc thù (trong đó có 17 mỏ đất san lấp, 03 mỏ cát). Đến nay tỉnh đã cấp phép đối với 03 mỏ đất san lấp phục vụ nhu cầu vật liệu của các dự án đầu tư công theo cơ chế đặc thù.
Việc áp dụng cơ chế đặc thù phải đi đôi với nâng cao công tác giám sát, tránh khai thác vượt công suất hoặc vi phạm điều kiện môi trường, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.
* Xin cám ơn ông.
Triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 cùng Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP đã và đang tạo sự chuyển biến rõ nét trong quản lý khai thác khoáng sản tại Thanh Hóa, góp phần khai thác tài nguyên có trách nhiệm và phát triển kinh tế- xã hội bền vững.
Minh bạch trong khai thác khoáng sản
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, năm 2025 tỉnh đã cấp 5 giấy phép thăm dò khoáng sản và 20 giấy phép khai thác khoáng sản, trong đó có 6 mỏ cát, 8 mỏ đất và 6 mỏ đá; đồng thời đấu giá thành công quyền khai thác khoáng sản tại 6 khu vực mỏ với tổng trữ lượng tài nguyên cho các doanh nghiệp như Công ty CP Xuân An Phú IMC, Công ty TNHH Mạnh Nguyễn Tiến, Công ty Cà Gai leo Cán Khê, Công ty Vĩnh An, Công ty Hoàng Tuấn, Công ty Thanh Túy, Công ty Hoàng Minh…
Khai thác cát được các doanh nghiệp đầu tư công nghệ
Khai thác cát trên sông Chu
Việc tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản được thực hiện công khai, minh bạch theo quy định pháp luật, qua đó không chỉ tăng nguồn thu ngân sách mà còn lựa chọn được các nhà đầu tư có năng lực tài chính và kinh nghiệm trong khai thác, chế biến khoáng sản. Đây được xem là bước tiến quan trọng nhằm hạn chế cơ chế “xin - cho” trong quản lý tài nguyên. Những trường hợp vi phạm như khai thác vượt công suất, ngoài ranh giới mỏ hay chậm thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường đều bị xử lý nghiêm theo quy định.
Bên cạnh việc quản lý hoạt động khai thác, tỉnh cũng đẩy mạnh rà soát, đánh giá hiệu quả của các dự án khoáng sản đã được cấp phép. Những mỏ không triển khai hoặc hoạt động kém hiệu quả sẽ bị xem xét thu hồi giấy phép, đóng cửa mỏ theo quy định. Đây là giải pháp quan trọng nhằm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản, đồng thời ngăn chặn tình trạng đầu cơ tài nguyên.
Ngoài ra, tỉnh cũng tăng cường phối hợp giữa các ngành chức năng và chính quyền địa phương trong kiểm tra, xử lý tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, vận chuyển khoáng sản không rõ nguồn gốc. Nhờ đó, hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn từng bước đi vào nền nếp, giảm thiểu các vi phạm so với trước đây.
Những giải pháp đồng bộ này đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên khoáng sản, đồng thời tạo môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản.
Tạo hành lang pháp lý để khai thác tài nguyên bền vững
Ngay sau khi Luật Địa chất và Khoáng sản có hiệu lực, Thanh Hóa đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đưa các quy định mới vào thực tiễn. Cơ quan chuyên môn đã tiến hành rà soát toàn bộ hệ thống giấy phép khai thác còn hiệu lực, các khu vực khoanh định không đấu giá và các hồ sơ đang giải quyết để bảo đảm phù hợp với quy định mới của pháp luật.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn khi triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 cũng được đánh giá là cú hích quan trọng đối với các địa phương.
Theo đó, Nghị quyết đã bổ sung và luật hóa một số cơ chế đặc thù trong khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, đặc biệt là cơ chế khoanh định khu vực không đấu giá phục vụ các công trình trọng điểm. Điều này giúp các địa phương chủ động hơn trong việc bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cho các dự án hạ tầng lớn.
Sản xuất đá làm vật liệu xây dựng tại Công ty Hoàng Tú
Công ty Tuấn Hiền đầu tư công nghệ vào sản xuất đá

Đối với Thanh Hóa, địa phương đang triển khai nhiều dự án giao thông và hạ tầng quy mô lớn, nhu cầu vật liệu xây dựng mỗi năm lên tới hàng chục triệu mét khối. Riêng năm 2026, nhu cầu đất san lấp toàn tỉnh khoảng 75,6 triệu m³, nhu cầu cát xây dựng khoảng 9,6 triệu m³ và nhu cầu đá xây dựng khoảng 15,5 triệu m³.
Trong khi đó, công suất khai thác hiện tại mới đáp ứng khoảng 76,2% nhu cầu đá, 52,4% nhu cầu đất san lấp và chỉ khoảng 3,7% nhu cầu cát xây dựng. Sự chênh lệch này từng gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung vật liệu cho một số dự án lớn trên địa bàn.
Trên cơ sở Nghị quyết 66.4, Thanh Hóa đã phê duyệt 20 khu vực mỏ vào danh mục không đấu giá quyền khai thác khoáng sản để cung cấp vật liệu cho các công trình theo cơ chế đặc thù, trong đó có 17 mỏ đất san lấp và 3 mỏ cát. Đến nay, tỉnh đã cấp phép cho 3 mỏ đất san lấp phục vụ trực tiếp các dự án đầu tư công cho Công ty Vĩnh An, Công ty Hoàng Tuấn.
Cơ chế đặc thù này giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, tạo điều kiện để doanh nghiệp sớm đưa mỏ vào khai thác, từ đó góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm.
Việc triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 cùng với Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP đang mở ra hướng đi mới cho công tác quản lý và khai thác khoáng sản tại Thanh Hóa. Không chỉ giúp tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách, các quy định mới còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo đảm nguồn vật liệu cho phát triển hạ tầng và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 đã làm thay đổi tư duy quản lý và khai thác tài nguyên theo hướng chủ động và chuyên nghiệp hơn. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã ghi lại một số ý kiến phản hồi từ doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Thọ, Chủ tịch Hiệp hội đá Thanh Hóa
Ông Nguyễn Văn Thọ, Chủ tịch Hiệp hội Đá Thanh Hóa: Cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường
Từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp trong ngành, tôi nhận thấy Nghị quyết 66.4 cùng với Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 đã mang lại những tín hiệu rất tích cực, góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn tồn tại trong thời gian dài.
Trước đây, Hiệp hội gặp không ít vướng mắc về thủ tục hành chính, đặc biệt là trong cấp phép, gia hạn khai thác và sự chồng chéo giữa các quy hoạch. Nhiều doanh nghiệp phải mất rất nhiều thời gian hoàn thiện hồ sơ, thậm chí bị gián đoạn sản xuất do chờ đợi phê duyệt. Điều này làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh và giảm sức cạnh tranh của ngành đá Thanh Hóa.
Tuy nhiên, với Nghị quyết 66.4, Hiệp hội đánh giá cao việc Nhà nước đã đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Nhờ đó, các thủ tục được xử lý nhanh gọn hơn, sát với thực tiễn hơn. Bên cạnh đó, Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 đã bổ sung nhiều quy định rõ ràng, minh bạch, giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận và tuân thủ hơn, đồng thời hạn chế những bất cập, chồng chéo trước đây.
Hiệp hội đặc biệt quan tâm là quy định về gia hạn giấy phép khai thác. Với những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tài chính và bảo vệ môi trường, việc được xem xét gia hạn sẽ tạo điều kiện để họ yên tâm đầu tư dài hạn, nâng cấp công nghệ và phát triển bền vững. Ngoài ra, cơ chế đấu giá quyền khai thác minh bạch hơn cũng giúp tạo môi trường cạnh tranh công bằng.
Khai thác đá tại Đồi Chăn, xã Tống Sơn
Bên cạnh đó, Thanh Hóa cũng cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết để luật có thể triển khai đồng bộ trong thực tế. Nếu không, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn trong quá trình áp dụng. Đồng thời, cần có cơ chế đặc thù cho ngành đá Thanh Hóa, bởi đây là địa phương có tiềm năng lớn về tài nguyên đá, cần được định hướng phát triển theo hướng chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng.
Ngoài ra, Hiệp hội cũng đề xuất Nhà nước quan tâm hơn đến việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yếu tố then chốt giúp ngành đá phát triển bền vững và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
Ông Văn Bình Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH XD và TM Tuấn Hiền
Ông Văn Bình Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH XD và TM Tuấn Hiền: Cần có cơ chế “thoáng hơn” cho khai thác vật liệu xây dựng
Thời gian vừa qua cả nước nói chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng thường xuyên xảy ra tình trạng khan hiếm VLXD như đá, cát, đất, đặc biệt là cát xây dựng, trong khi các nguồn vật liệu này trên địa bàn tỉnh rất phong phú.
Trước thực trạng đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành nhiều công văn chỉ đạo. Đặc biệt Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP để nhằm tháo gỡ khó khăn về VLXD cho các địa phương. Việc Quốc hội thông qua Luật Địa chất và Khoáng sản như luồng gió mới làm thay đổi cách nghĩ về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Thủ tục cấp phép được cải cách đơn giản, nếu như trước kia thủ tục cấp phép phải đi qua nhiều Sở, ban, ngành, thì nay giảm đi khoảng gần một nửa, công tác quản lý nhà nước thì chặt chẽ hơn chủ yếu hậu kiểm là chình, còn doanh nghiệp khai thác có trách nhiệm hơn.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt và đưa Luật Địa chất và Khoáng sản vào cuộc sống một cách bền vững và có trách nhiệm, tôi đề nghị đối với các mỏ khai thác đá được giao từ những năm 2020 về trước, Sở Nông nghiệp và Môi trường cần tham mưu cho UBND tỉnh đo đạc lại Cos, vì những năm trước đó công nghệ đo đạc lạc hậu nên chưa chính xác. Chính vì thế, sau này nhiều doanh nghiệp chưa khai thác, nhưng đã đến Cos, nên nhiều mỏ đá thiếu trữ lượng được giao.
Đối với những doanh nghiệp khai thác có trách nhiệm, nhưng đã hết Cos như giấy phép, trong khi Cos ở mỏ vẫn cao hơn so với xung quanh vừa làm mất mỹ quan môi trường vừa khó (hoặc không) phục hồi được môi trường sau khai thác, doanh nghiệp lại có đầu ra cho sản phẩm, giải quyết việc làm cho người dân địa phương mà có nhu cầu hạ Cos mở rộng diện tích khai thác thì UBND tỉnh cần nên xem xét cho mở rộng theo Luật Địa chất và Khoáng sản là không quá 50% diện tích đã được cấp phép trước đó.
Bởi vì đặc thù của nghề khai thác mỏ đá là doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất: Nhà xưởng, trạm điện, máy múc, máy cắt, máy xẻ. đặc biệt là làm hệ thống đường để đưa máy móc lên đỉnh cắt dây rất tốn kém. Không những thế, nhiều doanh nghiệp không những chú trọng đầu tư về công nghệ mà còn đầu tư đào tạo về khoa học kỹ thuật cho công nhân rất bài bản. Chính vì thế, sản phẩm sau khai khác đảm bảo chất lượng hơn, giá thành giảm hơn, trong khi tai nạn lao động cũng giảm đáng kể.
Ông Nguyễn Văn Tuấn, Phó Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Tuấn
Ông Nguyễn Văn Tuấn, Phó Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Tuấn: Nghị quyết 66.4 giải ‘cơn khát’ vật liệu xây dựng cho các dự án công
Trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy nguồn VLXD tại Thanh Hóa nói riêng và các địa phương trong cả nước có thời điểm khan hiếm, dẫn đến giá vật liệu biến động và ảnh hưởng nhất định đến tiến độ thi công của các dự án hạ tầng. Vì vậy, khi Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP được ban hành và đi vào triển khai, đây thực sự là một giải pháp quan trọng giúp giải quyết bài toán nguồn cung vật liệu.
Tại khu vực xã Trường Lâm và xã Các Sơn, các khu vực đất làm vật liệu san lấp được xác định thuộc tiêu chí không đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo điểm a, khoản 5, Điều 2 của Nghị quyết 66.4, nhằm cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án đầu tư công tại khu kinh tế Nghi Sơn theo đề xuất của các cơ quan có chuyên môn. Theo tôi, đây là một chủ trương rất phù hợp với nhu cầu thực tế tại địa phương, góp phần đảm bảo nguồn vật liệu kịp thời cho các công trình đang triển khai.
Từ góc độ doanh nghiệp, tôi đánh giá việc áp dụng cơ chế của Nghị quyết 66.4 cùng với các quy định của Luật Khoáng sản sửa đổi đã phần nào giải “cơn khát” nguồn vật liệu xây dựng trong thời gian qua. Khi nguồn cung vật liệu được bổ sung kịp thời, thị trường vật liệu xây dựng cũng dần ổn định hơn, qua đó giúp các nhà thầu chủ động trong kế hoạch thi công và hạn chế tình trạng chậm tiến độ các dự án.
Bên cạnh đó, tôi cũng cho rằng việc triển khai các mỏ vật liệu theo cơ chế đặc thù vẫn cần được thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và an toàn trong khai thác. Các doanh nghiệp tham gia khai thác cần thực hiện nghiêm các quy định về ranh giới mỏ, công suất khai thác, cũng như trách nhiệm hoàn nguyên môi trường sau khi kết thúc khai thác.
Theo tôi, việc triển khai hiệu quả Nghị quyết 66.4 và Luật Khoáng sản sửa đổi không chỉ giúp giải quyết nhu cầu vật liệu trước mắt mà còn tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển hạ tầng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời gian tới.
Ông Phạm Văn Đô, Giám đốc Công ty CP Vĩnh An
Ông Phạm Văn Đô, Giám đốc Công ty CP Vĩnh An: Tạo hành lang pháp lý thông thoáng, giúp doanh nghiệp có năng lực khai thác hợp pháp
Trong thời gian qua, việc triển khai Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ cùng với các quy định mới của Luật Địa chất và Khoáng sản sửa đổi đã tạo ra cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, đặc biệt phục vụ các công trình, dự án trọng điểm. Việc rút gọn một số thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và an toàn khai thác. Cơ chế này góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị đủ năng lực tham gia khai thác và cung cấp vật liệu kịp thời cho các dự án hạ tầng.
Đối với Công ty Cổ phần Vĩnh An, trên cơ sở các quy định của pháp luật và nhu cầu vật liệu xây dựng tại địa phương, đơn vị đã chủ động nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ và được xem xét triển khai khai thác 3 mỏ cát làm vật liệu xây dựng thông thường tại các khu vực Thiệu Quang, Hoằng Giang và Biện Thượng.
Trong quá trình triển khai, Công ty đã chủ động mời các cơ quan chuyên môn, các đơn vị tư vấn có kinh nghiệm phối hợp với các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an để thực hiện công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá trữ lượng, xác định ranh giới và các điều kiện khai thác theo đúng quy định của pháp luật. Toàn bộ quy trình đều được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về bảo vệ môi trường cũng như an toàn trong khai thác khoáng sản.
Công ty còn là một trong những đơn vị tiên phong áp dụng công nghệ giám sát khai thác bằng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động khai thác cát. Hệ thống này cho phép theo dõi liên tục vị trí khai thác, công suất khai thác và khối lượng tài nguyên được lấy lên theo thời gian thực, qua đó giúp kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, đảm bảo đúng tọa độ, đúng công suất được cấp phép, đồng thời góp phần tăng tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài nguyên.
Nghị quyết 66.4 và Luật Khoáng sản sửa đổi đã mở ra một hướng đi mới trong quản lý và khai thác khoáng sản, vừa tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
Ông Nghiêm Văn Chính, Giám đốc Công ty CP Cà gai leo Cán Khê
Ông Nghiêm Văn Chính, Giám đốc Công ty CP Cà gai leo Cán Khê: Phải tuân thủ Luật và triển khai dự án gắn với bảo vệ môi trường
Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch hơn cho các doanh nghiệp khi thực hiện các dự án có liên quan đến hoạt động thu hồi khoáng sản trong phạm vi dự án. Đối với Dự án Cây cà gai leo công nghệ cao Cán Khê tại xã Xuân Du (Thanh Hóa), ngay từ khi bắt đầu triển khai, chúng tôi luôn xác định phải thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, vừa bảo đảm tiến độ dự án, vừa gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường và lợi ích của cộng đồng.
Trong quá trình triển khai dự án, công ty đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản đất làm vật liệu san lấp trong phạm vi diện tích dự án khoảng 49.989,6 m² với khối lượng khoảng 337.921 m³, phục vụ cho việc san lấp và hoàn thiện mặt bằng dự án. Đây là nguồn vật liệu phát sinh trong quá trình triển khai dự án nên chúng tôi luôn thực hiện theo đúng vị trí, khối lượng và thời gian đã được cơ quan chức năng cho phép.
Khai thác đá tại xã Quý Lộc
Trong suốt quá trình thực hiện, Công ty luôn chú trọng đến các yếu tố an toàn và môi trường, bố trí lực lượng thường xuyên quét dọn khu vực thi công và các tuyến đường vận chuyển để hạn chế bụi bẩn, bảo đảm vệ sinh môi trường và không ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân. Đồng thời, các biển báo, biển cảnh báo an toàn cũng được cắm đầy đủ tại khu vực thi công và dọc các tuyến đường vận chuyển, bố trí người phân luồng, kẻ vạch kẻ đường nhằm bảo đảm an toàn giao thông và an toàn lao động.
Bên cạnh việc triển khai dự án, doanh nghiệp luôn có trách nhiệm đồng hành với sự phát triển của địa phương. Vì vậy, công ty cũng tích cực tham gia ủng hộ, đóng góp cùng chính quyền và người dân trong việc xây dựng, cải tạo các tuyến đường giao thông tại địa phương, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa và phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.
Tin liên quan
Thanh Hóa: Khai thác khoáng sản có trách nhiệm để phát triển kinh tế bền vững
Trong những năm qua, xã Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã quản lý tốt và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản để phát triển kinh tế- xã hội bền vững.
Thanh Hóa quản lý, bình ổn giá vật liệu xây dựng
Tỉnh Thanh Hóa triển khai các giải pháp quản lý, bình ổn giá vật liệu xây dựng nhằm đáp ứng như cầu thị trường.




