Khát vọng Lào Cai: [Bài 3] Đường trên núi

Những con đường trên núi được mở ra không chỉ là cuộc cách mạng về giao thông mà còn hiện thực khát vọng xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc.

Lào Cai xác định, nếu không có đường thì những bản làng trên núi mãi mãi bị cô lập, bị nhốt trong bóng tối của đói nghèo, lạc hậu. Vì vậy để hiện thực hóa khát vọng xây dựng Lào Cai “xanh - hài hòa - bản sắc - hạnh phúc”, giao thông phải là mũi khoan đi trước, mở lối cho sự phát triển. Từ Nghị quyết số 46-NQ/TU đến Nghị quyết số 22/2025/NQ-HĐND của Tỉnh ủy và Hội đồng Nhân dân tỉnh Lào Cai, những cung đường trên núi đã và đang được mở ra, xóa tan mây mù đón ánh bình minh cùng những niềm hy vọng mới.

 

Suốt hàng nghìn năm, người Mông trên đỉnh núi Phình Hồ tự hào về những đôi chân trần quấn xà cạp, dai dẳng và gân guốc như rễ cây rừng. Họ có thể đi bộ xuyên từ ngọn núi này sang ngọn núi khác, bấm ngón chân trên đá nhọn, trèo đèo lội suối ròng rã cả ngày trời chỉ chờ đến phiên chợ cuối tuần để uống với bạn một bát rượu ngô, đi để tìm vạt nương trồng cây lúa, cây chè. Nhưng đôi chân dẫu khỏe đến mấy cũng không trèo qua khỏi được cái nghèo. Không có giao thông, Phình Hồ bao đời nay vẫn còn là một vùng lõm bị sương mù và đá núi bủa vây.

Xã vùng cao Phình Hồ những ngày đầu tháng 5, mang một vẻ trầm mặc, u tịch. Mây xám đặc quánh như chì, sà xuống chực nuốt chửng những mái nhà lợp gỗ pơ mu của người Mông. Sau trận mưa rào đêm trước, con đường vắt vẻo lưng chừng núi bỗng chốc xuất hiện nhiều vết thương nham nhở do đất đá sụt trượt. Nhiều đoạn nền đường bị đứt gãy, chỉ còn trơ lại mép bê tông đu bám bên mép vực sâu hun hút.

 

 

Anh Hờ A Súa, Bí thư Chi bộ thôn Làng Nhì dẫn chúng tôi đi thăm một tuyến đường dốc dài chừng 500m để đến một xóm có 7 nóc nhà. Đây là một trong những tuyến đường dự kiến sẽ được kiên cố bằng bê tông rộng chừng 3m trong thời gian tới. Con đường này chỉ có một đoạn ngắn đã được đổ bê tông rộng 1m, phần còn lại vẫn là đường đất nhỏ hẹp len lỏi qua những triền núi.

Trên đường đi anh Súa chia sẻ: Thôn Làng Nhì bây giờ có 197 hộ, chủ yếu là đồng bào Mông. Chừng ấy dân, với diện tích chè Shan tuyết cổ thụ khá lớn, vài chục ha khoai sọ cuộc sống đáng ra cũng không đến nỗi. Nhưng cái nghèo nó cứ bám riết lấy dân bản, cũng vì đường giao thông trắc trở.

Trước đây, lối vào các bản toàn đường mòn. Nhờ sự nỗ lực của bà con, của chính quyền và sự hỗ trợ của cộng đồng, một số đoạn đã được đổ bê tông rộng 0,5m – 1m, vừa đủ rộng cho một người đi xe máy, người dân đi lại đỡ vất vả. Nhưng chỉ một trận mưa thôi là trơn trượt, trẻ con đi học khó khăn mà chè thu hái xong cũng không chở đi bán được.

Dừng chân bên đoạn ta luy mới được bà con san gạt mặt bằng để chuẩn bị đổ bê tông, anh Súa phấn khởi: "Khi có Nghị quyết 22 của HĐND tỉnh Lào Cai về việc hỗ trợ vật liệu để kiên cố bê tông, bà con dân bản vui lắm. Có những hộ dù hoàn cảnh gia đình còn rất khó khăn nhưng vẫn sẵn sàng hiến đất, chặt bỏ cây cối để mở đường. Có những đoạn vướng vào nương ngô, cây chè, thôn lại vận động mọi người đóng góp hỗ trợ ít tiền giống, tiền phân bón để bù đắp, nhờ đó bà con thông suốt cái bụng, vui vẻ đồng lòng cả. Đường mở đến đâu, ô tô vào được tận nơi chở chè, chở khoai đi bán đến đấy. Giá cả nông sản cao hơn là một chuyện, cái xe máy của bà con cũng đỡ hỏng, bớt tốn xăng. Nói cách khác, chỉ có giao thông thuận lợi thì bà con mới yên tâm lao động sản xuất, mới có hy vọng từng bước thoát được cái nghèo đã đeo bám nhiều đời".  

Tiếp chúng tôi tại ngôi trường được bao trọn xung quanh bởi núi non, thầy giáo Nguyễn Danh Chí Quảng, Hiệu trưởng trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Làng Nhì kể lại hành trình gần 30 năm gieo chữ qua khắp các bản làng trên vùng cao này.

"Tôi đi qua nhiều nơi lắm, đây là xã thứ 6 tôi dừng chân công tác. Bắt đầu từ xã Bản Hát, về Trạm Tấu, qua Tà Si Láng, Bản Mù, Phình Hồ và giờ là Làng Nhì. Dấu chân đã băng rừng vượt núi, in trên những nẻo đường ngược dốc từ thời còn phải đi bộ lội suối mới đến được điểm trường", thầy Quảng ngậm ngùi. Ánh mắt của thầy hiệu trưởng càng chùng xuống khi nhắc đến học sinh. Nhà trường hiện có 18 lớp học với gần 500 học sinh, 100% là con em đồng bào Mông. “Dạy học ở đây đặc thù lắm, không giống dưới xuôi”, thầy Quảng chia sẻ. Nhiều em khi mới đến trường còn chưa nói sõi tiếng phổ thông, mọi giao tiếp rất khó khăn. Vì vậy, các thầy cô giáo trên này xác định tinh thần kkhông chỉ dạy chữ mà còn phải như người cha, người mẹ thứ hai, vừa dạy nói tiếng phổ thông, vừa dỗ dành để các cháu yêu lớp, yêu trường. Nếu đường giao thông không thuận tiện, việc huy động các cháu đến lớp đã khó, việc duy trì sĩ số lại càng khó hơn.

Mới rồi, tham gia các cuộc họp của xã, nắm được thông tin về chủ trương phát triển giao thông nông thôn sắp tới, thầy Quảng hồ hởi lắm. “Khi hệ thống giao thông đồng bộ, rộng mở hơn tới các xóm bản, phụ huynh sẽ thuận lợi hơn trong việc đưa đón con em mình. Điều đó góp phần rất lớn để duy trì tỷ lệ học chuyên cần và nâng cao chất lượng dạy học. Chúng tôi hy vọng, với sự quan tâm của Nhà nước, những con đường bê tông 3m sẽ sớm nối liền các bản xa, để tri thức đến với học sinh không còn bị ngăn trở bởi sình lầy hay sạt lở. Có tri thức, có con đường, các em mới có tương lai tươi sáng hơn".  

Trụ sở UBND xã Phình Hồ, khu vực này nằm giữa một lòng chảo tương đối bằng phẳng. Xung quanh trụ sở là các công trình công cộng như trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang, tạo thành một cụm trung tâm giữa vòng vây của núi non hùng vĩ. Phía trên những sườn núi cao là nơi cư ngụ của đồng bào Mông với những ngôi nhà gỗ mái lợp pơ mu xám xịt. Từ trung tâm xã nhìn lên, những con đường tới khu dân cư ngoằn ngoèo tựa những con rắn khổng lồ đang oằn mình bò lên đỉnh núi.

Ông Hoàng Anh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Phình Hồ (trước sáp nhập từng là Trưởng phòng Lao động Thương binh Xã hội huyện Trạm Tấu) người đã dành hơn 20 năm gắn bó với vùng cao này, mở đầu chuyện đường sá bằng một tiếng thở dài đầy suy tư khi nhìn ra những dãy núi mờ sương.

Xã Phình Hồ mới được sáp nhập từ 3 xã Làng Nhì, Bản Mù và Phình Hồ của huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái cũ. Viện tích tự nhiên hơn 226 km2, dân số trên 11.000 người, chủ yếu là người dân tộc Mông. Điều kiện địa hình chia cắt bởi đồi núi dốc, đặc thù giao thông ở đây là những tuyến đường xương cá, độ dốc lớn, nhiều đoạn lên đến hơn 20%. Có những đoạn dốc dài cả cây số, nền đất yếu, phía trên là đất thịt, phía dưới là đá mồ côi rất dễ sạt lở. “Chỉ từ trụ sở Đảng ủy xã đến Ủy ban Nhân dân xã thôi cũng hơn chục cây số đường núi, nếu mưa lũ, sạt lở là con đường độc đạo này sẽ tê liệt”, ông Tuấn thông tin.

Đêm qua chỉ một trận mưa ngắn, đá đã lăn xuống Tỉnh lộ 174, cán bộ xã đi họp phải dừng lại lăn đá mới thông đường. Sau trận mưa lũ lịch sử năm 2024, có những điểm sụt sạt kéo dài cả năm trời mới xử lý xong. Mùa mưa đến, hầu như ngày nào cán bộ xã cũng phải trực chiến để hót đất đá sụt sạt. Nếu điểm lớn thì nhờ tỉnh, điểm nhỏ thì xã tự huy động máy xúc và nhân lực. Giao thông không thông suốt thì bà con bị cô lập, mọi hoạt động đều đình trệ.

Ông Tuấn thẳng thắn chia sẻ về thực trạng hệ thống giao thông nông thôn hiện nay: "Dù tỉnh lộ và đường liên xã đã được đầu tư cơ bản, nhưng hệ thống đường liên thôn, nội đồng và đường đến khu sản xuất vẫn chủ yếu là đường đất hoặc cấp phối tạm bợ. Bà con muốn chở bao chè, gùi củ khoai sọ nương ra chợ bán là cả một hành trình gian nan. Vì đường xấu, thương lái không vào tận xóm bản được, họ ép giá, hoặc bà con phải tự vận chuyển bằng xe máy ra trung tâm thì tiền xăng xe, công sức đã ngốn hết lợi nhuận. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của xã hiện vẫn chiếm hơn 50%".

Theo ông Tuấn, Nghị quyết 22 của HĐND tỉnh Lào Cai như một luồng sinh khí mới để các địa phương phát triển giao thông nông thôn. Vị vậy, xã đã nhanh chóng rà soát được hơn 20 tuyến đường thiết yếu với tổng chiều dài khoảng 5km để kiên cố bê tông trong năm 2026, kinh phí Nhà nước hỗ trợ dự kiến gần 8 tỷ đồng.

 

 

Chia sẻ về mục tiêu của Phình Hồ, ông Tuấn cho biết, Nghị quyết Đảng bộ xã phấn đấu đến năm 2030 quyết tâm đưa Phình Hồ ra khỏi danh sách xã nghèo. Vì vậy, hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn là mục tiêu cốt lõi để tạo sức bật để lưu thông nông sản, phát triển du lịch. Tin rằng, với sự hỗ trợ từ Nghị quyết 22 và tinh thần đoàn kết của đồng bào Mông nơi đây, những con đường bê tông mới sẽ sớm thay thế những con đường mòn lầy lội, mở ra một trang sử mới ấm no hơn cho vùng đất này.  

Rời xã vùng cao Phình Hồ, chúng tôi xuôi về Hưng Khánh (thuộc huyện Trấn Yên, Yên Bái cũ). Tại thôn Khe Ngang, câu chuyện về gia đình anh Hoàng Đăng Tình hiến đất làm đường đã trở thành một tấm gương sáng về tinh thần vì cộng đồng. Giữa thời buổi tấc đất tấc vàng, anh Tình khiến nhiều người nể phục khi đây đã là lần thứ 2 gia đình tự nguyện bạt đồi, lấp ruộng để mở rộng con đường chung.

Bên ngôi nhà khá đơn sơ, anh Tình chân chất chia sẻ: “Gia đình tôi có 5 nhân khẩu, sinh kế chủ yếu dựa vào mấy sào ruộng và gần 1 ha rừng quế. Ngày trước, con đường này khổ lắm, toàn đường đất lầy lội. Mỗi khi thu hoạch quế, thương lái chẳng buồn vào vì đường xa, trơn trượt. Vợ chồng tôi phải bóc quế, phơi khô rồi chở ra tận ngoài trung tâm mới bán được. Cực nhất là mấy đứa nhỏ đi học, ngày mưa bùn đất bê bết cả quần áo".

Năm 2020, khi địa phương có chủ trương làm đường bê tông 3m, gia đình anh Tình đã không ngần ngại hiến một phần diện tích ruộng và đất quanh nhà, chấp nhận chặt bỏ hàng cây ăn quả lâu năm để giải phóng mặt bằng. Đến đợt này, khi Nhà nước tiếp tục có kế hoạch mở rộng tuyến đường bê tông lên 5m, anh Tình lại một lần nữa tiên phong hiến thêm hơn 300 m2 đất, bao gồm cả đất ruộng đang canh tác hai vụ lúa và phần đất đồi để làm taluy, rãnh thoát nước.

Nhắc chuyện này, anh bộc bạch: "Tiếc thì cũng tiếc chứ, vì đó là đất ông bà để lại, là bát cơm của cả nhà. Nhưng tôi nghĩ rồi, mình hiến đất thì mình là người hưởng lợi đầu tiên. Có con đường đẹp, xe cộ đi lại thuận tiện, con cái đi học đỡ khổ, quế mình làm ra bán được giá cao hơn vì thương lái đánh xe vào tận đồi thu mua".

Trời gần đứng bóng, ông Lương Ngọc Tấn – Bí thư Chi bộ thôn Khe Ngang dẫn chúng tôi đi thăm đoạn đường vừa mới mở rộng, đổ bê tông rộng 5m nối liền xã Hưng Khánh với thôn Phương Đạo của xã Lương Thịnh.

Ông Tấn kể: “Hơn 2 thập kỷ trước, đoạn đường này chỉ là lối mòn đường rừng. Để có con đường như bây giờ, người dân địa phương đã phải tự mang cơm đùm cơm nắm, dùng cuốc, xẻng, xà beng đánh đất bằng tay mở đường. Rồi để có được những mét đường bê tông đầu tiên, dân làng đã trải qua biết bao đợt vận động. Từ chương trình 135 hỗ trợ được vài trăm mét, cho đến chủ trương nhà nước và nhân dân cùng làm nên mới có những tuyến bê tông 3 mét như thế này”.   

Đến bây giờ, chủ trương thực hiện làm đường theo Nghị quyết 22 của HĐND tỉnh Lào Cai, tinh thần bà con lại sục sôi hưởng ứng. Chúng tôi rà soát còn khoảng 800m đường liên xóm cần kiên cố hóa.

“Dân Khe Ngang khổ vì đường nhiều rồi nên khi nói đến làm đường là họ quyết tâm lắm, không ai tính toán thiệt hơn. Khi con đường 5m kết nối từ cụm công nghiệp Hưng Khánh sang xã Lương Thịnh được hoàn thiện, cuộc sống bà con chắc chắn sẽ bước sang trang mới. Sản phẩm quế, gỗ rừng trồng hay măng bát độ sẽ không còn bị tư thương ép giá, chi phí vận chuyển giảm đi, túi tiền của dân sẽ đầy thêm", ông Tấn hồ hởi nói.

Tiếp tục hành trình ghi nhận những kỳ vọng từ Nghị quyết 22, trò chuyện với ông Đào Ngọc Hùng – Bí thư Đảng ủy xã Hưng Khánh, được biết: Xã Hưng Khánh mới được hợp nhất từ hai xã Hồng Ca và Hưng Khánh (huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái cũ). Hạ tầng giao thông của 2 xã cũ đã đạt tiêu chí nông thôn mới giai đoạn trước, nhưng đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế. Ngày xưa đường rộng 3m là tốt lắm rồi, nhưng giờ mật độ xe lớn, người dân có điều kiện mua ô tô chở hàng thì mặt đường 3m quá hẹp, 2 xe tránh nhau rất nguy hiểm, nhất là ở các đoạn dốc.

Chính vì vậy, Nghị quyết 22 của HĐND tỉnh Lào Cai hỗ trợ xi măng, cát, sỏi… đến tận chân công trình để mở rộng mặt đường lên 5m, nền 6m là chủ trương vô cùng đúng đắn và kịp thời. Qua rà soát kỹ lưỡng, dự kiến trong giai đoạn tới, xã sẽ thực hiện kiên cố hóa bê tông gần 20 km và mở mới hơn 8,3 km đường liên thôn, liên xã, đường nội đồng, đường vào các vùng sản xuất.

Ông Hùng nhấn mạnh: “Với một địa phương mà sinh kế người dân dựa vào nông - lâm nghiệp với các vùng sản xuất hàng hóa lớn như: hơn 3.300ha quế, gần 2.000ha tre măng Bát Độ, hơn 190ha chè và gần 100ha cây dược liệu… Khi đường được kiên cố hóa và mở rộng, cái lợi nhìn thấy ngay là thương lái đánh xe tải vào tận vùng nguyên liệu. Chi phí vận chuyển giảm, giá trị sản phẩm tăng lên, bà con không còn phải vất vả phơi khô rồi vận chuyển ra quốc lộ như trước.

Đặc biệt, tới đây xã sẽ tập trung mở mới đường nội đồng và các tuyến nối liền các thôn của 2 xã cũ để xóa bỏ những cách trở. Không chỉ là giao thương hàng hóa, đây còn là con đường giao lưu văn hóa, kết nối nhân dân các xóm làng của xã mới. Hiện nay, Hưng Khánh có nhiều thác nước đẹp, những đồi quế, rừng chè xanh mướt. Xã sẽ xây dựng những tuyến đường xanh để phát triển du lịch với các tour trải nghiệm, cũng như đưa sản phẩm đặc sản của địa phương đến tay người tiêu dùng.

“Với sự hỗ trợ của Nhà nước và sức mạnh từ lòng dân, hệ thống giao thông của Hưng Khánh sẽ sớm hoàn thiện, trở thành động lực quan trọng để xã vươn mình trong kỷ nguyên mới, đưa cuộc sống của đồng bào người Mông, người Tày địa phương ngày càng ấm no, hạnh phúc, góp phần xây dựng xã nông thôn mới trong giai đoạn tới”, ông Hùng kỳ vọng.

Bước vào kỷ nguyên mới, tỉnh Lào Cai đang vươn mình trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kết nối giao thương của vùng Trung du và miền núi phía Bắc và giao thông là một trong những đột phá hàng đầu. Trò chuyện với Báo Nông nghiệp và Môi trường, ông Đoàn Đức Thuận càng biết thêm nhiều điều thú vị quanh chuyện “mở đường trên núi”, đặc biệt là những đột phá từ Nghị quyết 22 của HĐND và Nghị quyết số 46 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển hạ tầng giao thông.

Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai phân tích: Với địa hình đồi núi cao, chia cắt mạnh và dân cư phân bố không đồng đều, việc phát triển giao thông tại Lào Cai luôn là một bài toán khó. Sau hợp nhất, toàn tỉnh Lào Cai hiện có mạng lưới giao thông khá đồ sộ với 1 tuyến cao tốc dài hơn 153 km, 9 tuyến Quốc lộ dài hơn 944 km và 27 tuyến đường tỉnh dài hơn 1.425 km. Bên cạnh đó là hệ thống đường liên xã, trục xóm và nội đồng với tổng chiều dài hơn 15.000 km…

Với đặc thù của các tỉnh vùng cao, mở đường là mục tiêu xuyên suốt từ nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác, nhưng hiện trạng giao thông của Lào Cai vẫn còn lắm ngổn ngang. Khoảng 89% các tuyến đường giao thông nông thôn mới chỉ đạt cấp kỹ thuật tối thiểu (cấp B, C, D). Đặc biệt, những con đường trục thôn hẹp dưới 3m, nền đường chưa quá 4m đã trở thành những “nút thắt cổ chai”, không chỉ cản trở xe tải vận chuyển nông sản mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông, nhất là vào mùa mưa lũ khi nguy cơ sạt lở luôn rình rập. Hiện vẫn còn gần 4.000 km đường đất và cấp phối, chiếm tới 27% toàn mạng lưới.

“Địa hình của Lào Cai có dốc rất lớn, nhiều núi cao và vực sâu. Suất đầu tư ở đây lớn hơn nhiều so với đồng bằng. Mỗi mùa mưa bão, sạt lở nền đường và trôi công trình cầu cống diễn ra thường xuyên. Chính vì vậy chúng tôi thống kê toàn tỉnh có 1.554 công trình vượt sông suối, nhưng hiện có tới 317 công trình bao gồm cầu treo, cầu tạm và ngầm tràn đang hư hỏng, cần sửa chữa hoặc xây mới”, ông Thuận trăn trở.

Trước thực trạng đó, Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Nghị quyết số 46 ngày 3/2/2026. Đây là văn kiện mang tính lịch sử, bao trùm mọi hoạt động phát triển hạ tầng giao thông cho giai đoạn mới. Nghị quyết đặt ra 4 mục tiêu lớn, thứ nhất mở mới, nâng cấp ít nhất 350 km đường liên xã, đường kết nối từ các tuyến Quốc lộ, đường tỉnh đến trung tâm các xã. Đến hết năm 2030, tỷ lệ đường giao thông nông thôn trên địa bàn các xã được nhựa hóa, bê tông hóa đạt trên 80% theo tiêu chí Nông thôn mới.

Thứ hai, đầu tư xây dựng ít nhất 100 cây cầu bê tông xi măng, cầu thép với quy mô phù hợp để thay thế các cầu treo cũ, cầu tạm, cầu cũ, ngầm tràn bị hư hỏng và tại vị trí qua sông, suối chưa được đầu tư xây dựng cầu.

Thứ ba, hỗ trợ mở mới, mở rộng nền đường, kiên cố hóa mặt đường bê tông xi măng (gồm làm mới và cải tạo mở rộng mặt đường cũ), xây dựng công trình thoát nước (cống, rãnh dọc) cho ít nhất 2.500 km đường giao thông nông thôn đạt chuẩn về nền, mặt đường theo các cấp A, B, C theo Tiêu chuẩn Đường giao thông nông thôn.

Thứ tư, quyết tâm đến trước năm 2040, 100% đường giao thông nông thôn được nhựa hóa, bê tông hóa; 100% cầu treo, cầu tạm, cầu cũ và ngầm tràn được đầu tư thay thế bằng cầu bê tông cốt thép.

Hiểu nôm na, kỷ nguyên mới của Lào Cai là một công cuộc mở đường, cả về giao thông lẫn mở lối tư duy mới, khát vọng mới.

Nhằm hiện thực những mục tiêu mang tính lịch sử, Nghị quyết 22 của HĐND tỉnh Lào Cai ngày 9/12/2025 đóng vai trò là chính sách hỗ trợ then chốt. Điểm nhấn quan trọng nhất là phương châm “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”. Nghị quyết quy định rõ cơ chế hỗ trợ cực kỳ linh hoạt, tháo gỡ từng khó khăn đặc thù của vùng cao.

Tỉnh Lào Cai hỗ trợ kinh phí mở mới nền đường với các mức 350 – 250 – 160 triệu đồng/km tùy theo cấp đường A, B, C. Với việc mở rộng đường cũ, hỗ trợ 100 triệu đồng/km mở mới. Nhà nước sẽ hỗ trợ 100% xi măng, cát, đá đến tận chân công trình để xây dựng mặt đường và gia cố rãnh dọc tại những đoạn dốc cao. Với các xã, thôn đặc biệt khó khăn, tỉnh hỗ trợ thêm từ 50 - 60 triệu đồng/km kinh phí nhân công trực tiếp lao động.

Theo ông Thuận, để Nghị quyết đi vào đời sống, giải pháp đột phá nằm ở việc huy động sức mạnh từ cộng đồng. Nhà nước không thể làm thay hết mọi việc. Sự vào cuộc của chính người dân và cộng đồng doanh nghiệp là nhân tố quyết định sự thành bại của mục tiêu kiên cố hóa giao thông. Và việc rà soát, lập kế hoạch làm đường phải xuất phát từ nhu cầu thiết yếu nhất của bà con. Chính sự đồng thuận sẽ khiến người dân sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức để cùng Nhà nước kiến tạo những tuyến đường hiện đại. Khi bà con thấy được lợi ích từ việc thương lái vào tận nương thu mua sản phẩm, từ việc con trẻ đi học an toàn, sự tự nguyện hiến đất mở đường sẽ trở thành một phong trào lan tỏa mạnh mẽ.

Bên cạnh sức dân, các địa phương phải chủ động kêu gọi, huy động mọi nguồn lực xã hội hóa từ các doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Đặc biệt là những doanh nghiệp khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp – những đơn vị trực tiếp sử dụng hạ tầng giao thông để lưu thông hàng hóa. Việc doanh nghiệp hỗ trợ máy móc, phương tiện vận chuyển hay trực tiếp tài trợ kinh phí xây dựng đường, cầu, cống không chỉ thể hiện trách nhiệm cộng đồng mà còn tạo ra sự hài hòa lợi ích giữa sản xuất và dân sinh.”

Bên cạnh đó, ông Thuận cũng chỉ ra rằng cần chống tư tưởng “ỷ lại” vào nguồn lực Nhà nước. Ngành Xây dựng Lào Cai đang đẩy mạnh phân cấp tối đa cho cấp xã, áp dụng các thiết kế mẫu điển hình để tối giản hóa thủ tục hành chính, giúp các xã, phương dễ dàng triển khai mà vẫn đảm bảo chất lượng. Mục tiêu là quy trình phải ngắn gọn, công khai và minh bạch để dân tin, dân làm.

Khi giao thông nông thôn được khơi thông, chúng sẽ tạo thành một mạng lưới đồng bộ kết nối trực tiếp với các tuyến Quốc lộ, cao tốc lớn như cao tốc Nội Bài – Lào Cai hay tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng đang được đầu tư xây dựng.

Cuối cùng, lãnh đạo Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai đúc kết: Phát triển giao thông nông thôn theo Nghị quyết 22 của HĐND và Nghị quyết 46 của Tỉnh ủy là cuộc chiến với sự nghèo nàn, lạc hậu và cả những rào cản tự nhiên khắc nghiệt.

Với sự đồng thuận của lòng dân, sự dẫn dắt của ý Đảng, Lào Cai đang biến những khó khăn của địa hình thành lợi thế của sự kết nối. Những cung đường hiện đại, kiên cố đang từng ngày vươn dài, mang theo tri thức, ánh sáng và khát vọng về một Lào Cai giàu mạnh, sầm uất nơi biên cương Tổ quốc.

Thanh Tiến - Tú Thành
Trương Khánh Thiện
Thanh Tiến - Tú Thành
Xem thêm