

Những năm gần đây, xu hướng sản xuất nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững đang ngày càng được nhiều nông dân phía tây tỉnh Gia Lai quan tâm. Trong đó, việc ứng dụng các chế phẩm sinh học, vi sinh để thay thế dần thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học được xem là hướng đi tất yếu nhằm cải tạo đất, nâng cao chất lượng nông sản và bảo vệ sức khỏe người sản xuất lẫn người tiêu dùng.


Là người có nhiều năm gắn bó với lĩnh vực nông nghiệp, anh Nguyễn Công Hoàng Gia (xã Mang Yang) là một trong những nông dân tiên phong theo đuổi mô hình canh tác hữu cơ vi sinh. Năm 2015, anh lên Gia Lai lập nghiệp với trang trại cà phê và chanh dây rộng hơn 5ha. Thời gian đầu, việc sản xuất vẫn theo phương thức truyền thống, phụ thuộc lớn vào thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Tuy nhiên, sau này anh nhận thấy đất đai ngày càng khô cứng, suy giảm độ màu mỡ, sâu bệnh phát sinh nhiều hơn, còn chi phí sản xuất liên tục tăng cao.
Từ thực tế đó, anh bắt đầu tìm hướng chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ vi sinh, ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học để cải tạo đất và kiểm soát dịch hại. Từ năm 2017, anh mạnh dạn thay thế hoàn toàn thuốc bảo vệ thực vật hóa học bằng các sản phẩm sinh học trong vườn chanh dây. Ngay vụ đầu tiên áp dụng phương pháp mới, mô hình mang lại hiệu quả khi năng suất và chất lượng trái vượt trội, doanh thu đạt hơn 500 triệu đồng/ha.


“Việc lạm dụng hóa chất trong sản xuất chỉ mang lại hiệu quả tức thời nhưng về lâu dài sẽ khiến hệ sinh thái đất bị phá vỡ, cây trồng suy yếu và dịch hai ngày càng khó kiểm soát. Trong khi đó, ứng dụng vi sinh vật có lợi giúp cải thiện cấu trúc đất, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, hạn chế nấm bệnh và tạo nền tảng cho cây trồng phát triển bền vững”, anh Gia chia sẻ.
Để hiện thực hóa định hướng này, năm 2021, anh Gia thành lập Công ty TNHH Ánh Dương Tây Nguyên nhằm nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các giải pháp canh tác hữu cơ vi sinh cho nông dân trên địa bàn tỉnh. Cùng với đội ngũ kỹ sư nông nghiệp, anh trực tiếp xuống vườn hướng dẫn bà con áp dụng các quy trình sản xuất xanh như sử dụng chế phẩm sinh học cải tạo đất, trồng xen canh tạo hệ sinh thái tự nhiên, tiết kiệm nước tưới và giảm dần sự phụ thuộc vào hóa chất.


Theo anh Gia, sau mỗi vụ thu hoạch, việc cắt tỉa cành, cải tạo đất và phục hồi bộ rễ là khâu đặc biệt quan trọng để cây trồng tái tạo sức sinh trưởng cho mùa vụ mới. “Nông dân cần tiến hành vệ sinh vườn, loại bỏ cành sâu bệnh, bổ sung phân hữu cơ hoai mục kết hợp các chủng vi sinh vật có lợi nhằm tăng độ mùn, độ tơi xốp cho đất và hỗ trợ bộ rễ phát triển khỏe mạnh”, anh Gia chia sẻ.
Hiện nay, nhiều giải pháp sinh học đang được Công ty Ánh Dương Tây Nguyên ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc cây trồng. Trong đó, EM Green 01 chứa các chủng vi sinh vật giúp phân giải chất hữu cơ, chuyển hóa dinh dưỡng trong đất thành dạng cây dễ hấp thu.
Bio Green 02 bổ sung hệ nấm rễ cộng sinh Mycorrhizae có tác dụng kích thích phát triển bộ rễ, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng và hạn chế nấm bệnh gây hại trong đất. Ngoài ra, NutriNeem-Zyme còn kết hợp hệ vi sinh vật cải tạo đất với tinh dầu Neem giúp phòng ngừa tuyến trùng gây hại rễ, góp phần bảo vệ cây trồng phát triển ổn định.


Không chỉ tập trung vào kỹ thuật canh tác, anh Gia còn tích cực kết nối thị trường tiêu thụ nhằm tạo đầu ra ổn định cho nông sản của bà con. Đồng thời, anh vận động thành lập nhiều tổ liên kết sản xuất tại các địa phương để cùng chia sẻ kinh nghiệm và xây dựng vùng nguyên liệu theo hướng bền vững. Đến nay, nhiều tổ liên kết trồng chanh dây, cà phê tại các xã Chư Păh, Ia Grai, Đak Đoa, Chư Sê, Chư Prông… đã từng bước hình thành và hoạt động hiệu quả.
Hiện Công ty TNHH Ánh Dương Tây Nguyên đang cung ứng giải pháp xử lý, cải tạo đất và kiểm soát dịch hại bằng giải pháp sinh học cho hơn 3.000ha cà phê, 50ha chanh dây và hơn 200ha sầu riêng trên địa bàn tỉnh. Song song đó, Công ty thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, chuyển giao kỹ thuật nhằm giúp nông dân thay đổi tư duy sản xuất theo hướng xanh, an toàn và bền vững hơn.




Tham gia tổ liên kết sản xuất nông nghiệp xanh, anh Ngô Thân Thương (thôn Hàm Rồng, xã Ia Băng) nhận thấy hiệu quả rõ rệt khi chuyển sang canh tác cà phê theo hướng hữu cơ, tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ và các chế phẩm sinh học thay cho hóa chất. Nhờ đó, vườn cà phê 1ha của gia đình luôn duy trì năng suất vượt trội. Riêng vụ vừa qua, gia đình thu hoạch khoảng 7,5 tấn nhân, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung trong khu vực.
Theo anh Thương, yếu tố quan trọng giúp vườn cà phê đạt năng suất cao là đất đai được cải tạo ổn định, hệ sinh vật trong đất phát triển tốt và kiểm soát hiệu quả bệnh rệp sáp bằng các chế phẩm sinh học. Ngay khi phát hiện sâu bệnh xuất hiện, anh chủ động sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học để phòng trừ sớm, giúp hạn chế dịch hại nhưng vẫn bảo vệ được hệ sinh thái tự nhiên trong vườn.
Anh Thương cho biết, trước đây khi còn sản xuất theo phương thức truyền thống, vườn cà phê thường rơi vào tình trạng năm được mùa, năm mất mùa, năng suất thiếu ổn định do đất đai ngày càng suy giảm độ màu mỡ và cây dễ phát sinh sâu bệnh.
Năm 2020, gia đình anh chuyển toàn bộ diện tích sang sản xuất cà phê hữu cơ, ưu tiên sử dụng phân bón hữu cơ, men vi sinh và thuốc bảo vệ thực vật sinh học.


“Sau vài năm áp dụng, đất vườn tơi xốp hơn, cây cà phê sinh trưởng khỏe, tỷ lệ đậu trái tăng và năng suất cải thiện rõ rệt, giúp gia đình thêm vững tin với hướng sản xuất nông nghiệp xanh, bền vững”, anh Thương chia sẻ.
Nhiều năm trước, vùng cà phê và hồ tiêu tại các xã Bờ Ngoong, Ia Tiêm, Kon Gang, Nam Yang gặp khó khăn do người dân quen canh tác theo phương thức truyền thống, phụ thuộc nhiều vào phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Việc lạm dụng hóa chất khiến đất đai dần bạc màu, cây trồng nhanh suy kiệt, sâu bệnh phát sinh nhiều, năng suất và chất lượng nông sản giảm sút qua từng vụ.
Ông Trần Quốc Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Sản xuất Kinh doanh Dịch vụ nông nghiệp Ia Ring (xã Bờ Ngoong) cho biết, hiệu quả của phương thức canh tác cũ chỉ mang tính trước mắt, còn về lâu dài khiến chi phí sản xuất tăng cao và môi trường đất bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Từ thực tế đó, người dân bắt đầu chuyển hướng sang sản xuất nông nghiệp bền vững với việc tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
Tháng 12/2017, HTX Ia Ring được thành lập với 40 thành viên, canh tác khoảng 100ha cây trồng. Bước ngoặt lớn đến khi Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn (Bộ NN-PTNT trước đây) hỗ trợ xây dựng mô hình 30ha cà phê hữu cơ, áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật theo hướng giảm hóa chất, tăng sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm vi sinh và thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
Các lớp tập huấn ngay tại vườn mô hình giúp bà con trực tiếp thấy rõ hiệu quả của phương pháp canh tác mới. Thay vì phụ thuộc vào thuốc hóa học, người dân ưu tiên sử dụng chế phẩm sinh học và phân hữu cơ vi sinh để cải tạo đất, phục hồi hệ vi sinh vật có lợi. Nhờ đó, cây cà phê sinh trưởng khỏe, ít sâu bệnh, giảm chi phí sản xuất nhưng năng suất và chất lượng sản phẩm vẫn được nâng cao.


Từ hiệu quả thực tế, mô hình nhanh chóng được nhân rộng. Đến nay, HTX đã phát triển lên khoảng 500 thành viên với hơn 600ha cà phê sản xuất theo hướng hữu cơ bền vững, đạt các chứng nhận 4C, RA phục vụ xuất khẩu. Nếu trước năm 2019, năng suất cà phê chỉ đạt khoảng 2 - 3 tấn nhân/ha thì đến năm 2022 đã tăng lên khoảng 5 tấn/ha, nhiều diện tích tái canh đạt tới 7 tấn/ha.
“Hiện toàn bộ diện tích cà phê của HTX đều áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước và đẩy mạnh sử dụng phân hữu cơ sản xuất từ phân chuồng, vỏ trấu kết hợp men vi sinh sẵn có tại địa phương. Việc gia tăng sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học không chỉ giúp cải tạo đất, bảo vệ môi trường mà còn tạo ra sản phẩm an toàn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu”, ông Trần Quốc Hưng chia sẻ.




Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Gia Lai đã tăng rõ nét, trở thành một trong những giải pháp quan trọng hướng tới nền nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững. Sự thay đổi này không chỉ xuất phát từ yêu cầu của thị trường mà còn cho thấy nhận thức của người dân về bảo vệ sức khỏe, môi trường và nâng cao chất lượng nông sản ngày càng được nâng lên.
Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Gia Lai, năm 2025, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh khoảng 2.213 tấn, trong đó lượng thuốc bảo vệ thực vật sinh học ước đạt khoảng 768 tấn, chiếm 35,5%, tăng 5,8% so với năm 2024. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy sản xuất nông nghiệp tại Gia Lai đang từng bước giảm phụ thuộc vào hóa chất, hướng tới các giải pháp thân thiện với môi trường.
Hiện toàn tỉnh có 1.320 cơ sở buôn bán phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Trong đó có 1.191 cơ sở kinh doanh đồng thời cả phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Mạng lưới phân phối rộng khắp đã góp phần giúp người dân dễ dàng tiếp cận các dòng sản phẩm sinh học phục vụ sản xuất.
Không riêng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, việc sử dụng phân bón hữu cơ tại Gia Lai cũng tăng mạnh trong thời gian qua. Theo thống kê, năm 2025 toàn tỉnh sử dụng khoảng 6.796 nghìn tấn phân bón, trong đó phân hữu cơ chiếm tới 6.110 nghìn tấn. Điều này phản ánh xu hướng chuyển đổi phương thức canh tác theo hướng an toàn, bền vững đang ngày càng rõ nét trong sản xuất nông nghiệp.




Theo đánh giá của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Gia Lai, trước đây, nhiều nông hộ thường lạm dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh với mong muốn nâng cao năng suất cây trồng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc sử dụng quá mức các loại thuốc hóa học không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất, gây ô nhiễm môi trường và tác động tiêu cực đến sức khỏe con người.
Trong khi đó, thuốc bảo vệ thực vật sinh học có nguồn gốc từ vi sinh vật, thảo mộc hoặc các hợp chất tự nhiên, ít gây tồn dư độc hại trên nông sản, an toàn hơn cho người sử dụng và hệ sinh thái. Dù hiệu lực thường chậm hơn thuốc hóa học, song đây được xem là giải pháp phù hợp với xu hướng sản xuất nông nghiệp sạch, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.
Những năm gần đây, cùng với việc đẩy mạnh công tác tập huấn, tuyên truyền, ngành nông nghiệp Gia Lai đã triển khai nhiều mô hình sản xuất sử dụng thuốc sinh học, phân hữu cơ và các giải pháp canh tác bền vững. Qua đó, nhận thức của người dân từng bước thay đổi từ tư duy sản xuất chạy theo năng suất sang chú trọng chất lượng và tính bền vững.


Ngành nông nghiệp Gia Lai cũng tích cực hướng dẫn nông dân áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp như ICM, IPM, IPHM nhằm giảm sử dụng thuốc hóa học trong sản xuất. Nhiều mô hình trên cây cà phê, hồ tiêu, rau màu và cây ăn quả đã cho thấy hiệu quả rõ rệt khi giảm chi phí đầu vào, hạn chế sâu bệnh và nâng cao chất lượng nông sản.
Hiện nay, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học trên địa bàn tỉnh Gia Lai ngày càng tăng. Người dân đã nhận thức rõ hơn về tác hại của việc lạm dụng thuốc hóa học đối với sức khỏe, môi trường và chất lượng nông sản. Vì vậy, xu hướng chuyển sang sử dụng các sản phẩm sinh học là phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp xanh, bền vững của tỉnh trong thời gian tới.
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi này, thời gian tới ngành nông nghiệp Gia Lai sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật cho người dân. Đồng thời xây dựng thêm nhiều mô hình trình diễn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc sinh học trong sản xuất. Cùng với đó, việc kiểm tra, quản lý hoạt động kinh doanh vật tư nông nghiệp cũng sẽ được siết chặt nhằm hạn chế tình trạng buôn bán các sản phẩm kém chất lượng.
Tin liên quan
Kết nối Nhà nước - Doanh nghiệp phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học
Kết nối Nhà nước - Doanh nghiệp phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học; Việt Nam chi gần 3 tỷ USD nhập khẩu thủy sản trong 10 tháng.
Ruộng sạch, lúa khỏe nhờ thuốc bảo vệ thực vật sinh học
ĐỒNG THÁP Việc sử dụng thuốc BVTV sinh học giúp nông dân ĐBSCL giảm chi phí, tăng năng suất, bảo vệ môi trường, hướng đến nền nông nghiệp xanh, sạch, bền vững.
Kết hợp sử dụng hài hoà thuốc bảo vệ thực vật sinh học và hóa học
Cần sử dụng thuốc BVTV dựa vào tình trạng sâu bệnh, điều kiện môi trường và khả năng tài chính của nông dân tại từng vùng.
Đặt nền móng, động lực cho nông nghiệp hữu cơ
GIA LAI Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học ngày càng lan tỏa rộng rãi, mang lại nhiều lợi ích và đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp bền vững.



