Khát vọng Lào Cai: [Bài 2] Mở cửa kho báu nghìn tỷ

Dưới những tán rừng, trên từng triền núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, tự ngàn đời qua, thiên nhiên và cả con người vùng cao Lào Cai đã hình thành nên một mỏ vàng dược liệu quý. Dù khiến các nhà khoa học hàng đầu về chuyên ngành y dược trầm trồ thích thú, họ vẫn đau đáu với tiềm năng nhiều nghìn tỷ đồng nhưng vẫn đang còn say ngủ của mỏ vàng này.

Kho báu ấy, theo thống kê mới nhất của cơ quan chuyên môn tỉnh Lào Cai, là một quần thể sinh thái đa dạng với khoảng 850 loài cây thuốc, trong đó có 70 loài quý hiếm đặc hữu, hơn 6,5 nghìn ha dược liệu quý, chủ yếu là dược liệu dưới tán rừng với sản lượng ước đạt hơn 30.000 tấn. Đặc biệt, sau hợp nhất Lào Cai và Yên Bái, tỉnh Lào Cai mới sở hữu diện tích quế hơn 150 nghìn ha. Thật không ngoa khi gọi trái tim của vùng Tây Bắc là thủ phủ dược liệu lớn nhất cả nước.

Gắn bó nhiều năm với công tác bảo tồn và phát triển dược liệu của khu vực Tây Bắc, Tiến sĩ Phạm Ngọc Khánh, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Nghiên cứu dược liệu Sa Pa -Viện Dược liệu - Bộ Y tế thông tin: Đặc biệt, dãy Hoàng Liên Sơn ở Lào Cai được xem là một trong những trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất Việt Nam. Hiếm có nơi nào tập trung nhiều loài dược liệu quý như ở nơi này, như Tam thất hoang, Sâm vũ diệp, Bảy lá một hoa...

Bên cạnh đó, khu vực Sa Pa có độ cao trung bình trên 1.000 m so với mực nước biển, khí hậu ôn đới núi cao phù hợp để thực hiện công tác nghiên cứu nhập nội giống cây dược liệu có nguồn gốc từ khu vực Đông Bắc Á và châu Âu. Nhiều giống cây dược liệu đã được nghiên cứu nhập nội thành công và cung cấp giống cho các vùng trồng dược liệu trong cả nước như atiso, đương quy, đảng sâm, bạch truật, đỗ trọng... Dược liệu được trồng sản xuất tại khu vực Sa Pa cũng được đánh giá có hàm lượng hoạt chất vượt trội, đảm bảo tiêu chuẩn làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược.

Đặc biệt, những nơi như cao nguyên trắng Bắc Hà, xã Y Tý, Si Ma Cai, Mù Cang Chải, Trạm Tấu… đều là những địa danh gắn liền với công tác phát triển cây dược liệu có giá trị. Gần 2 thập kỷ qua, nhiều loài cây quý như đương quy, cát cánh, xuyên khung, đảng sâm… đã bén rễ trên những vùng đất này, từng bước thay thế những cây trồng kém hiệu quả, tạo thêm thu nhập cho người dân vùng cao.

“Thế nhưng, có một nghịch lý, dù sở hữu kho báu tự nhiên nhưng Lào Cai và cả nước nói chung vẫn đang đối diện với cơn khát dược liệu trầm trọng”, TS Khánh chùng giọng.

Thống kê của Cục Quản lý Y dược cổ truyền cho biết, hằng năm nhu cầu dược liệu tiêu thụ trong nước lên tới 80.000-90.000 tấn, với chi phí nhập khẩu mỗi năm ước trên 300 triệu USD.

Cụ thể hơn, nguồn dược liệu nội địa của chúng ta mới chỉ đáp ứng được khoảng 25-30%, còn lại là nhập khẩu tại các thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ... Tất nhiên, phía sau những con số ấy là nhiều khoảng tối mà có người gọi là thế giới ngầm, đang còn tồn tại những “điểm mù” chưa hoặc không muốn làm sáng tỏ. Thành thử mới có chuyện thị trường bỏ ra số tiền khổng lồ để nhập khẩu dược liệu, nhưng ở chiều ngược lại, kho báu quý giá dưới tán rừng lại âm thầm được chuyển qua nước bạn.

Ông Trần Minh Sáng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, thừa nhận: Trước hợp nhất cả Yên Bái và Lào Cai đều là những địa phương có tiềm năng lớn về dược liệu. Thậm chí có thời điểm, Lào Cai là một trong những trung tâm tập kết dược liệu lớn bậc nhất khu vực phía Bắc. Cây thuốc, rễ thuốc được những thương lái thu gom, tập kết, chọn những loại chất lượng tốt nhất để xuất thô sang bên kia biên giới.

Ở những thung lũng công nghiệp bên đó, người ta dùng sóng siêu âm đánh vỡ nát cấu trúc tế bào, ép ra những giọt hoạt chất tinh túy nhất để bán với giá hàng chục ngàn đô la. Trong khi ở chiều ngược lại, thị trường nội địa lại phải tiếp nhận dược liệu kém chất lượng, hoạt chất không bảo đảm. Cơ quan chức năng từng phát hiện không ít sản phẩm dược liệu không đạt tiêu chuẩn được đưa vào tiêu thụ.

Nghịch lý ấy, cùng với thực trạng “chảy máu dược liệu”, mai một tri thức bản địa, vùng nguyên liệu phát triển phân tán, chuỗi liên kết chưa chặt chẽ, công nghiệp chế biến sâu còn hạn chế khiến sản phẩm chủ yếu quẩn quanh ở dạng thô, giá trị gia tăng chưa cao. Người nông dân vùng cao gắn bó với cây dược liệu như đánh cược với trời, gồng mình chống chọi với thiên tai, biến đổi khí hậu và sâu bệnh, trong khi chu kỳ sản xuất một số loài dược liệu có thể kéo dài đằng đẵng từ 5-7 năm.

Dù đã có một số mô hình di thực cây thuốc quý mang lại kết quả khả quan, nhưng vì thiếu sự tham gia bài bản của khoa học công nghệ, thiếu hệ thống tiêu chuẩn và cơ quan chuyên môn đánh giá, những thành quả ấy vẫn chỉ dừng lại ở nỗ lực đơn độc của vài doanh nghiệp hay hợp tác xã, chưa thể nhân rộng thành tài sản chung.

Đứng trước những đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn, một lộ trình tháo gỡ mang tính chiến lược đã được định hình. Nghị quyết số 48-NQ/TU ngày 3/2/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai về phát triển dược liệu chiến lược giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2050 được ban hành như một quyết sách mở cửa kho báu dược liệu của Lào Cai, đưa dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược của tỉnh, phát triển theo chuỗi giá trị bền vững, gắn sản xuất với chế biến sâu, thị trường tiêu thụ, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên rừng và phát huy giá trị tri thức, văn hóa bản địa, qua đó tạo sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập cho nhân dân, nhất là vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những quan điểm đột phá mang tính cởi trói ấy đang được ngành Nông nghiệp và Môi trường coi là kim chỉ nam. Một cuộc đại phẫu đã bắt đầu, dọn đường cho khát vọng đưa Lào Cai trở thành thủ phủ dược liệu của cả nước trong kỷ nguyên mới.

Cuối tháng 4 năm 2026, Bắc Hà rũ sạch vẻ lãng đãng, nết na của những mùa hoa mận tãi trắng thung lũng. Đất trời hiện lên bức bối, dữ dằn hệt một con thú hoang đang thu mình, liếm láp vết thương thiên nhiên tạo ra.

Buổi chiều muộn, chúng tôi bước vội vào phòng làm việc của ông Nguyễn Tài Nghệ, Phó Chủ tịch UBND xã Bắc Hà. Ấm nước cắm dở chưa kịp reo sôi để hãm tuần trà cuối ngày, bầu trời bỗng rùng rùng chuyển sắc. Mây đen đặc quánh, vần vũ kéo về. Đất trời tối đen như mực. Tiếng người xôn xao, nhốn nháo dội lên từ trụ sở UBND xã và những nóc nhà lân cận. Cán bộ quýnh quáng lo bầy trẻ tan trường chưa kịp về, người vội vã chằng chống cửa nẻo, kéo bạt che chắn phương tiện.

Gió bắt đầu rít qua từng khe cửa. Mưa ào ạt dội xuống hệt như có một vóc dáng khổng lồ vô hình nào đó đang giận dữ ném từng vốc đá dăm rào rào. Cơn giông lốc kéo đến chóng vánh, hung bạo, cắn xé tàn nhẫn rồi tan đi vội vã. Bỏ lại sau lưng một không gian xao xác.

Trong cuộc đấu trí với thiên nhiên, sức vóc con người trở nên nhỏ bé. Cách trụ sở UBND xã chừng 4 km, tại vùng trồng dược liệu quý của Hợp tác xã Nông nghiệp Cồ Dề Chải (HTX Cồ Dề Chải), tàn dư của trận mưa đá cuộn theo lốc xoáy rạng sáng 16/4 vẫn còn phơi bày bày ra đó, những thân thông mã vĩ lực lưỡng bị vặn đứt. Gỗ lớn tướp táp đổ rạp, đè bẹp hệ thống lưới cắt nắng, nghiền nát bấy vườn tam thất bắc 5 năm tuổi đang độ chớm nở hoa. Bao mồ hôi, vốn liếng chắt chiu ròng rã, chỉ chờ ngày thu hoạch, chớp mắt hóa thành bãi hoang tàn.

Chưa hết, vườn thuốc nằm dưới tán rừng. Cây thông gãy đổ thuộc thẩm quyền quản lý của Nhà nước. Bất di bất dịch. Dù ruột gan bốc lửa, xót của đến trào nước mắt, người của Công ty Cổ phần VIETRAP Đầu tư Thương mại (Công ty VIETRAP), của HTX Nông nghiệp Cồ Dề Chải cùng người dân bản vẫn phải khoanh tay đứng nhìn, chờ lực lượng chức năng đến kiểm đếm, lập biên bản xong xuôi mới được sắn tay vào dọn dẹp.

Bà Vũ Thị Vân Phượng, Giám đốc Công ty VIETRAP, đứng sững sờ bên mép rừng. Đôi mắt lặng lẽ nhìn vườn dược liệu đang dần thối rữa. Nắng ban ngày chang chang, chiều mưa như trút, đêm xuống sương lạnh ẩm ướt. Những củ tam thất nằm im lìm dưới xác gỗ thông bị luộc chín trong cái nền nhiệt độ quái gở, hầm hập ấy. Nhũn ra. Chín thối. Phân hủy và từ từ lặn ngược vào lòng đất.

Biết trách ai bây giờ? Chẳng ai khả dĩ trả lời rành rọt được. “Làm nông nghiệp là phó thác sinh mệnh cho thời tiết. Thấy mưa đá đổ sập, tôi chỉ chắp tay mong anh em nhân công an toàn là được. Cây mất, ta lật đất làm lại. Mình không cắn răng nuốt nước mắt vào trong để vượt qua, thì đợi ai khóc thương?”. Bà Phượng đúc kết bằng sự điềm tĩnh đến gai người.

Sự gan lỳ, sắt đá ấy vốn dĩ không tự nhiên sinh ra. Nó được nhào nặn từ một cuộc lội ngược dòng đẫm mồ hôi để thay đổi nếp nghĩ đã bám rễ hàng thế kỷ của đồng bào vùng cao. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển vùng trồng dược liệu, đưa cây thuốc vào dưới tán rừng là lối thoát nghèo bền vững, nhưng tại một địa bàn có tới 90% là người Mông, những người vẫn còn tâm lý e dè, hoài nghi sau nhiều dự án dang dở trong quá khứ thì đó thực sự là một thách thức cực đại.

Để phá vỡ lớp băng định kiến ấy, Công ty VIETRAP và HTX Nông nghiệp Cồ Dề Chải đã phải kiên trì dấn thân, chứng minh bằng cách làm thật, tạo ra hiệu quả thật. Từ việc bám bản cầm tay chỉ việc trên từng luống đất, đến cam kết bao tiêu toàn bộ đầu ra, những loại dược liệu cứ thế đổi ra tiền tươi thóc thật đã làm cho niềm tin nảy nở, thay đổi tư duy canh tác manh mún để nhường chỗ cho khát vọng làm giàu.

Như anh Sùng Seo Sếnh ở xã Lùng Phình, từng gay gắt phản đối và vận động bà con không tham gia mô hình dược liệu. Nhưng thời gian, cùng hiệu quả thực tế từ những vùng trồng đầu tiên, đã khiến anh thay đổi cách nhìn. Từ một người đứng ngoài, Sếnh được nhận vào làm việc tại HTX Cồ Dề Chải. Bằng sự chịu khó, bền bỉ và tinh thần học hỏi, anh dần trở thành cán bộ phụ trách quản lý vùng nguyên liệu của hơn 700 hộ liên kết.

Đây cũng là tinh thần quan trọng mà Nghị quyết 48 đặt ra: Người dân phải là chủ thể trong chuỗi giá trị dược liệu, cần được tham gia vùng nguyên liệu, được hỗ trợ kỹ thuật, có hợp đồng liên kết, có đầu ra ổn định và được hưởng lợi tương xứng từ giá trị do chính mình tạo ra.

Những nút thắt trong quản lý, phát triển dược liệu dưới tán rừng cũng được Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Trần Minh Sáng nhìn nhận là vấn đề cần sớm tháo gỡ.

Theo ông, Sở đã tham mưu cho tỉnh xây dựng danh mục các dự án phát triển dược liệu gắn với dịch vụ môi trường rừng. Trên cơ sở danh mục này, tỉnh Lào Cai sẽ ban hành chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, thông thoáng hơn để thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư hợp pháp, bền vững. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống chính sách triển khai Nghị quyết 48.

Trở lại câu chuyện với ông Nguyễn Tài Nghệ, Phó Chủ tịch UBND xã Bắc Hà, địa phương đang tiến hành rà soát tổng thể để quy hoạch phát triển thêm 135 ha dược liệu tập trung, ưu tiên các giống giá trị cao như tam thất bắc, sâm Lai Châu, sâm Ngọc Linh, thất diệp nhất chi hoa (Bảy lá một hoa)... Việc bố trí vùng trồng sẽ được thực hiện bài bản trên nền tảng bản đồ số, kết hợp đánh giá chi tiết về thổ nhưỡng và sinh thái.

Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, bài toán cốt lõi là phải kiến tạo một cơ chế liên kết "4 nhà" chặt chẽ và thực chất hơn. Trong đó, chính quyền đóng vai trò kiến tạo hành lang pháp lý thông thoáng - đặc biệt là tháo gỡ vướng mắc về quy định sử dụng đất lâm nghiệp; các cơ quan khoa học đồng hành trong việc cung cấp giống chuẩn và đánh giá chất lượng; doanh nghiệp giữ vai trò đầu tàu tổ chức sản xuất, chế biến và bao tiêu; còn người dân là chủ thể trực tiếp tham gia chuỗi giá trị.

Kho báu dược liệu của tỉnh Lào Cai còn nằm trong trí nhớ của các ông lang, bà mế người Tày, Dao, Mường, Thái, Mông, Hà Nhì… những người thừa kế và thực hành thứ tri thức y lý bản địa được truyền đời qua nhiều thế hệ.

Bởi vậy, khi Nghị quyết 48 đặt mục tiêu phát triển dược liệu thành ngành kinh tế chiến lược. Một nhiệm vụ quan trọng không kém là bảo tồn, phát huy tri thức y học cổ truyền, kiểm kê các bài thuốc, cây thuốc quý, đồng thời gắn tri thức bản địa với du lịch, chăm sóc sức khỏe và phát triển sản phẩm hàng hóa.

Một buổi sinh hoạt chuyên môn của các thành viên Chi hội Đông y xã Đông Cuông cho thấy rõ điều đó. Những người làm thuốc cùng nhau thu hái, bào chế dược liệu, trao đổi phương pháp chữa bệnh và chia sẻ kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nam. Trong không gian ấy, lương y Hà Thị Thoa, người dân tộc Mường, kể lại hành trình gắn bó với nghề thuốc gia truyền.

Từ nhiều năm trước, bà Thoa được bố truyền cho bài thuốc trị rắn độc cắn, rồi được mẹ chồng là người Tày truyền lại bài thuốc chữa thận. Nhờ những kinh nghiệm ấy, bà đã cứu chữa cho nhiều người. Mỗi năm, bà khám, chữa bệnh cho hơn 200 bệnh nhân bằng y học cổ truyền với tỷ lệ khỏi bệnh trên 85%.

Theo bà Thoa, mỗi bài thuốc là sự kết hợp của nhiều vị dược liệu khác nhau. Một cây thuốc dù có tác dụng tốt với một triệu chứng bệnh, nếu không biết phối hợp đúng vị, đúng liều, đúng cách thì hiệu quả chữa trị cũng không cao. Có bài cần 5 vị, có bài 7 vị, có bài phải đủ đến 9 vị mới thành phương thuốc hoàn chỉnh.

Trong vườn nhà bà Thoa hiện có hơn 100 loại cây dược liệu. Hơn 40 năm gắn bó với nghề thuốc, bà vẫn miệt mài đọc sách y học cổ truyền, học hỏi thêm các bài thuốc trong dân gian, trao đổi cây thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh với những người cùng nghề.

Nhưng điều khiến bà trăn trở nhất hiện nay không phải là thiếu bài thuốc, mà là nhiều vị thuốc quý trong tự nhiên đang ngày càng thưa vắng. Có cây đưa về vườn trồng được, có cây không thích nghi. Vì thế, theo bà Thoa, muốn giữ cây thuốc thì phải giữ môi trường sống của cây. Phải phủ xanh đất trống, hạn chế phun thuốc hóa học, bảo vệ bờ suối, rừng cây, những nơi cây thuốc còn có thể mọc lên.

Tri thức dân gian về dược liệu chính là “địa chỉ đỏ” để Lào Cai thúc đẩy phát triển kinh tế bản địa, đặc biệt khi gắn kết với du lịch và văn hóa. Điển hình cho sự thành công này là bài thuốc tắm của người Dao Đỏ, một sản phẩm du lịch trị liệu đã tạo được tiếng vang và thu hút hàng triệu du khách mỗi năm.

 

 

Chị Tẩn Tả Mẩy (xã Tả Phìn) là một ví dụ tiêu biểu cho việc thương mại hóa thành công tri thức bản địa. Từ nồi nước tắm gia truyền kết hợp 80 loại rễ, lá, thân cây, chị Mẩy đã tập hợp chị em trong bản thành lập HTX Cộng đồng Dao Đỏ. Nắm bắt xu hướng sử dụng sản phẩm tự nhiên, HTX đã đa dạng hóa các sản phẩm từ dược liệu như tinh dầu chùa dù, cao xoa bóp ngải cứu, xà bông thảo dược, cao tắm cô đặc....

Sự phát triển của HTX, từ 7 thành viên ban đầu lên 129 thành viên, không chỉ mang lại thu nhập ổn định mà còn làm thay đổi vị thế của người phụ nữ dân tộc thiểu số. Những người phụ nữ vùng cao nay đã tự tin tham gia quản lý, đàm phán hợp đồng và tổ chức các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới. Hơn thế nữa, việc HTX ký kết với Vườn Quốc gia Hoàng Liên để khai thác bền vững dược liệu tự nhiên dưới sự giám sát của kiểm lâm và tự ươm giống cây thuốc đã tạo ra một mô hình phát triển chuỗi giá trị khép kín, đưa sản phẩm từ Sa Pa vươn tới các thị trường xa như từ Phú Quốc trở ra và hướng tới xuất khẩu.

Để thực sự khai mở kho báu dược liệu Tây Bắc theo tinh thần Nghị quyết 48, Lào Cai xác định không chỉ dựa vào sự đầu tư máy móc, công nghệ, mà phải bắt đầu từ việc bồi đắp, vinh danh và hệ thống hóa mạng lưới y học cổ truyền. Chiến lược của tỉnh là kết hợp khéo léo việc phát triển dược liệu với các mục tiêu kinh tế - xã hội, trong đó du lịch sinh thái, du lịch trị liệu đóng vai trò đòn bẩy quan trọng để biến tài nguyên bản địa thành sinh kế bền vững. Sự giao thoa giữa tri thức truyền thống và định hướng phát triển hiện đại chính là chìa khóa để dược liệu Lào Cai vươn xa.

Vài năm trở lại đây, hơn 150 hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Sa Pa đã tham gia vùng nguyên liệu atiso liên kết với Công ty TNHH MTV TraphacoSapa, hình thành diện tích khoảng 50 ha trên đất dốc.

Đây là mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò kết nối sản xuất với thị trường. Người dân giữ đất, trực tiếp canh tác trên ruộng nương của mình; doanh nghiệp hỗ trợ giống, kỹ thuật, thu mua nguyên liệu và tổ chức chế biến. Cách làm này giúp người dân không bị tách khỏi tư liệu sản xuất, đồng thời tạo nền tảng để hình thành vùng nguyên liệu lâu dài.

Nhìn lại chặng đường phát triển atiso ở Sa Pa, ông Đỗ Tiến Sỹ, Giám đốc Công ty TNHH MTV TraphacoSapa cho biết, những ngày đầu không hề thuận lợi. Khoảng năm 2000, khi lá atiso tươi vừa cắt khỏi thân, hoạt chất đã bắt đầu suy giảm. Nếu vận chuyển xa từ Sa Pa hoặc Đà Lạt về nhà máy ở Hà Nam cũ, chất lượng dược liệu không còn bảo đảm. Từ yêu cầu thực tế đó, doanh nghiệp đầu tư xưởng chiết xuất ngay gần vùng nguyên liệu, rút ngắn tối đa thời gian từ thu hái đến chế biến.

 

 

Hiện nay, các vùng trồng atiso liên kết với TraphacoSapa đã được gắn mã truy xuất nguồn gốc, giúp kiểm soát quá trình từ giống, chăm sóc, thu hái đến chế biến. Đây là bước đi cần thiết để dược liệu Lào Cai đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, giảm tình trạng bán thô, nâng giá trị sản phẩm và tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng.

Từ thực tiễn ấy, ông Trần Minh Sáng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng: Muốn hình thành ngành hàng dược liệu bền vững, phải có quy hoạch vùng trồng ổn định, giống chuẩn, quy trình kỹ thuật, cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ. Đây cũng là tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết số 48-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai đặt ra khi xác định dược liệu là ngành kinh tế chiến lược của tỉnh trong giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2050.

Nhìn từ Nghị quyết 48 và kế hoạch triển khai của tỉnh, dược liệu Lào Cai đã được đặt vào một lộ trình phát triển rõ ràng. Đến năm 2030 sẽ hình thành vùng nguyên liệu trên 8,5 nghìn ha, sản lượng khoảng 40 nghìn tấn, giá trị ngành hàng sau chế biến đạt trên 2 nghìn tỷ đồng. Tỉnh Lào Cai đặt mục tiêu tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, quy mô lớn, gắn với chuỗi giá trị hoàn chỉnh; trong đó ít nhất 70% sản lượng dược liệu được tiêu thụ qua các chuỗi liên kết ổn định, có truy xuất nguồn gốc.

Điều đó cũng có nghĩa, người dân vùng cao sẽ trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị có doanh nghiệp dẫn dắt, có khoa học công nghệ hỗ trợ, có Nhà nước tạo hành lang chính sách và có thị trường ổn định. Đây là thay đổi căn bản trong tư duy phát triển nông nghiệp, từ trồng cây bán sản phẩm thô sang tổ chức một ngành hàng có tiêu chuẩn, thương hiệu và khả năng cạnh tranh.

Cũng theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, song song với sản xuất, Nghị quyết 48 đặt ra định hướng khai thác đa giá trị từ dược liệu. Cây thuốc không chỉ phục vụ công nghiệp dược, mà còn gắn với du lịch sinh thái, chăm sóc sức khỏe, sản phẩm OCOP, văn hóa bản địa và dịch vụ trải nghiệm. Những vùng trồng dược liệu, nếu được quy hoạch bài bản, có thể trở thành không gian kinh tế mới, nơi nông nghiệp, du lịch, khoa học và văn hóa cùng tạo giá trị.

Điểm xuyên suốt của chiến lược này là phát triển dược liệu phải đi cùng bảo vệ rừng và bảo đảm sinh kế bền vững. Cây thuốc được nhìn nhận như một sinh kế giữ rừng, giúp người dân có thu nhập từ rừng mà không khai thác tận diệt tài nguyên rừng. Khi người dân sống được bằng dược liệu, họ sẽ có thêm động lực để bảo vệ những tán rừng nuôi cây thuốc.

Thực tiễn việc phát triển dược liệu của tỉnh Lào Cai thời gian qua đã cho thấy hướng đi đúng nhưng cũng đặt ra yêu cầu mới về quy hoạch, cơ chế và tổ chức thực hiện. Nghị quyết 48 vì vậy là quyết sách mở đường để Lào Cai khai mở kho báu dược liệu một cách bài bản, có kiểm soát và bền vững.

Khi vùng nguyên liệu được quy hoạch rõ ràng, doanh nghiệp đủ niềm tin đầu tư chế biến sâu, nhà khoa học đồng hành bằng giống chuẩn và quy trình chuẩn, người dân trở thành chủ thể của chuỗi giá trị, cây dược liệu Lào Cai sẽ không còn là tiềm năng nằm yên trên núi.

Nó sẽ trở thành ngành kinh tế xanh, tạo sinh kế ổn định, nâng tầm thương hiệu địa phương và góp phần định vị Lào Cai trên bản đồ dược liệu quốc gia. Và khi ấy, kho báu nghìn tỷ sẽ được mở cửa khai thác, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng, phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc của Lào Cai.

Tú Thành - Thanh Tiến
Trương Khánh Thiện
Tú Thành - Thanh Tiến

Tin liên quan

Khát vọng Lào Cai: [Bài 1] Ghi ở xã đầu tiên ra mắt CLB văn hóa - nghệ thuật - thể thao nòng cốt

Khát vọng Lào Cai: [Bài 1] Ghi ở xã đầu tiên ra mắt CLB văn hóa - nghệ thuật - thể thao nòng cốt

eMagazine 16:23

Ngày 10/4, Mường Lai trở thành xã, phường đầu tiên của tỉnh Lào Cai thành lập CLB văn hóa - nghệ thuật - thể thao nòng cốt và tổ chức ra mắt ngày 20/4.

Xem thêm