Người lính già cầm trăng đợi chờ vì sợ đêm đi mất

Lê Thiếu Nhơn - Thứ Sáu, 27/09/2024 , 08:58 (GMT+7)

Người lính già là cách nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu tự nhận ở tuổi 80, khi ông giới thiệu tuyển thơ chắt chiu đời mình với bạn đọc, vào sáng 27/9 tại TP.HCM.

Nhà thơ - đại tá Nguyễn Văn Hiếu.

Người lính già Nguyễn Văn Hiếu mang quân hàm đại tá, nghỉ hưu đã lâu. Ông sinh ra và lớn lên ở vùng bán sơn địa Yên Định, Thanh Hóa. Năm 1965, ông tạm biệt chốn chôn nhau cắt rốn nghèo khó Định Tân để nhập ngũ lúc vừa tròn 20 tuổi: “Đường xa ngàn dặm con đi mãi/ Mái rạ làng quê giục bước chân”.

Khói lửa Trường Sơn không làm Nguyễn Văn Hiếu sợ hãi, mà bồi đắp thêm tâm hồn đa cảm của ông. Khi dân tộc có được hòa bình, ký ức thời bom đạn đã thôi thúc ông làm thơ, như một cách đáp đền nghĩa tình đồng đội, như một cách tri ân may rủi số phận: “Nhớ bạn bè cùng lứa/ Áo lính rợp rừng xa/ Giờ nơi đâu ai biết/ Có về quê thăm nhà?”.

Ngoảnh lại thời trận mạc, nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu có hai câu thơ ấn tượng: “Những người lính gặp nhau/ Như rừng gom thêm lá”. Những chàng trai năm ấy đã hội tụ trong tiếng gọi non sông, hồn nhiên và lặng lẽ dâng hiến thanh xuân cho Tổ quốc. Vì vậy, nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu dành một phần không nhỏ gia tài thi ca của mình để bái vọng đồng đội: “Sương đằm bia mộ đăm đăm/ Khói nhang khắc khoải tháng năm tìm về”.

Trong thơ người lính già, có phút giây im lìm day dứt “Bia trắng dòng tên nhức mắt/ Lòng thành dâng nén tâm hương/ Đất sâu mấy tầng hài cốt/ Chết còn lưu lạc quê hương” và có cả giây phút nôn nao ngậm ngùi: “Uống từ trăng mọc sườn non/ Đến khi trăng lặn khuyết mòn đêm thâu/ Chén này nước mắt chan nhau/ Uống cho đứa ở rừng sâu không về”.

Ở tuổi 80, nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu tự lựa chọn hơn 200 bài thơ chất chứa vui buồn suốt nửa thế kỷ đam mê thi ca, để in thành một tuyển tập, giúp công chúng và đồng nghiệp có được cái nhìn tổng quan về hành trình sáng tạo của ông. Bên cạnh tâm tư người lính già đã ra khỏi chiến tranh với những ám ảnh khôn nguôi, thơ Nguyễn Văn Hiếu có hai mảng lớn, thứ nhất là miền quê thơ ấu, thứ hai là duyên nợ mong manh.

Dù đã định cư và thành đạt ở đô thị phương Nam, đại tá – nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu vẫn tự thú: “Ngồi buồn chợt nhớ làng quê/ Lại như ăn phải bùa mê phố phường”. Chốn cũ không xa về khoảng cách đã được giải quyết bằng phương tiện giao thông hiện đại, nhưng chốn cũ ngày càng xa phía kỷ niệm. Sự khắc nghiệt của thời gian chìm khuất trong sự phôi phai ân tình: “Bởi sông cách trở đôi bờ/ Cho côi cút núi, cho vờ vật lau/ Lang thang một đám mây nhàu/ Thuyền người để bạc nỗi đau gác chèo”, khiến ông thảng thốt: “Người xưa xa lắc nơi đâu/ Để trầu vàng lá, để cau rụng đầy/ Chiều đang nhuộm xuống sông gầy/ Lại vài chiếc lá vèo bay xa dần”.

Con sông ôm ấp cố hương Yên Định từng được truyền tụng “Cầu Chày chó lội đứt đuôi” đã chảy vào thơ Nguyễn Văn Hiếu những dòng hồi tưởng miên man: “Vẫn dòng sông lặng lẽ trôi/ Giấu gì thăm thẳm một thời mộng mơ/ Bên sông một thoáng hẹn hò/ Tháng năm hóa thạch bài thơ đợi chờ”. Ông đi lùi vào dĩ vãng bình yên mà vẫn thấy mong ngóng bất tận: “Ký ức bập bùng kỷ niệm/ Buồn vui thấp thoáng sao mờ/ Dấu xưa ủ vào gương mặt/ Cỏ gà ran ríu ước mơ”.

Thơ Nguyễn Văn Hiếu chú trọng vần điệu và luôn khởi sự suy tư từ những xao xuyến mà ông không thể nào quên lãng. Chất trữ tình xuất hiện trong thơ ông như những thước phim âm bản, mà kẻ ở người đi cứ ngổn ngang: “Cung đường tôi gặp lại em/ Mùi hương bồ kết xanh đầy tóc em/ Em mang màu áo màu cây/ Sớm mai dòng suối xanh đầy bóng em”, cứ bịn rịn: “Anh đứng mơ hồ cho chiều xuống/ Chiều cũng mơ hồ ngơ ngẩn em”, cứ bâng khuâng: “Tiếng đa đa mỏi một vùng đồi trọc/ Em chờ anh con nước cũng hao mùa”.

Hình ảnh tình nhân chấp chới giữa thực và hư “Ta đỡ vầng trăng rơi mà ngỡ mắt em nhìn” làm ông thỉnh thoảng ngơ ngác “Tất bật vì một bông hoa lại không nhận ra em trước mặt” và dằng dặc hối tiếc: “Tôi lầm lỗi để em thành cổ tích/ Em hóa rằm vằng vặc một miền tôi”.

Cho nên, thơ tình Nguyễn Văn Hiếu cảm thông những dang dở: “Hai người một chiếc ô nghiêng/ Chưa xong câu hát mà em đã về/ Dường như đã lỡ câu thề/ Chồn chân vó ngựa bộn bề thung xa” và an ủi những hụt hẫng: “Ghế khuya trống một chỗ ngồi/ Con thuyền mắc cạn đơn côi với mình/ Sao thì tít tắp vòm xanh/ Em thì xa mãi mong manh phận người”.

Tuyển thơ Nguyễn Văn Hiếu.

Vẻ đẹp thơ tình Nguyễn Văn Hiếu không có chỗ cho trách móc hay oán hận. Ông dùng sự độ lượng để khép lại sự chia biệt: “Anh về mong gặp em thương nhớ/ Em xa. Em mãi mãi xa rồi/ Mình anh tìm đến cây đa cũ/ Chiều xuống buông đầy xác lá rơi”. Và ông dùng sự khoan dung để chấp nhận sự bẽ bàng: “Có áo người ngày trước/ Dùng dằng bao nhớ nhung/ Có mắt người ngày trước/ Còn xôn xao lạ lùng/ Chén rượu lòng thấy chát/ Mềm môi còn thấy cay/ Có bao nhiêu chén rượu/ Mà cuộc tình chưa say”.

Đọc thơ Nguyễn Văn Hiếu, không khó để nhận ra chân dung một con người chân thành và nhạy cảm: “Một cơn mưa ập tới/ Lụt lội miền tâm tư”. Vì vậy, ông có cách riêng để tha thứ cho những trớ trêu hoặc những phản trắc mà bản thân đã nếm chịu: “Có một bông hồng nở/ Đỏ như môi ai chờ/ Có một người rất lạ/ Cứ gặp hoài trong mơ/ Trở gió mặt hồ thu/ Ngọn đèn khuya lay lắt/ Giọt sương nào chạm môi/ Nỗi buồn nào chóng mặt/ Ta sợ đêm đi mất/ Cầm trăng mà đợi chờ”.

Người lính già chỉ bất an với những xáo trộn đe dọa môi trường sống trong lành và bền vững của cộng đồng lương thiện. Ông xót thương trước sự thay đổi khó lường thịnh suy của xóm thôn chộn rộn bài toán kinh tế ích kỷ: “Sân gôn mở rộng ra sườn núi/ Cánh đồng hẹp lại bớt màu xanh/ Trồng cỏ nhiều tiền hơn cấy lúa/ Thợ cày xe máy chạy vòng quanh” và ông xao xác trước sự bấp bênh của những con người thấp cổ bé họng phải gánh lấy thiệt thòi giữa sục sôi danh lợi: “Sông hẹp núi mòn hồ nước cạn/ Ruộng vườn thu lại phố nhà cao/ Không gian cắt xẻ đồng thưa vắng/ Trăng quê cửu vạn ở nơi nào”.

Trải qua con đường dài đồng hành đất nước từ gian lao đến no ấm, đại tá- nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu ung dung tự tại: “Ta đi cuối đất cùng trời/ Bây giờ đi lạc vào nơi xế chiều” và ông càng thêm trân trọng cuộc đời trìu mến: “Vừa thoảng qua song cửa/ Gió vội bỏ đi rồi/ Mới chuyện trò với tôi/ Người đã về cõi khác/ Mây buồn trôi ngơ ngác/ Nước mắt nhòe mưa rơi”.

Lê Thiếu Nhơn
Tin khác
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.

‘Bước chân gọi lương tri người cha’ - Một cuốn sách đáng đọc
‘Bước chân gọi lương tri người cha’ - Một cuốn sách đáng đọc

Cuốn sách là món quà, nhưng cũng là một thử thách, thôi thúc mỗi người cha hãy về nhà, gác chiếc điện thoại và những lo toan lại, cùng con mở một trang sách mới.

Hồ Anh Thái và những hé lộ từ sự dịch chuyển
Hồ Anh Thái và những hé lộ từ sự dịch chuyển

Từ sân bay đến bản thảo bỏ quên trong sảnh lễ tân, Hồ Anh Thái kiến tạo một cấu trúc kể chuyện nơi con người luôn đứng giữa những ngưỡng cửa của sự dịch chuyển.