Chiến tranh đã lùi xa để tạ lỗi với mây xanh

Lê Thành Nghị - Thứ Hai, 02/09/2024 , 06:47 (GMT+7)

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với nhà thơ Mai Thìn, quá khứ chưa bao giờ ngủ yên khiến anh thổ lộ những tâm tư day dứt qua tập thơ ‘Tạ lỗi với mây xanh’.

Nhà thơ Mai Thìn qua nét vẽ của Tân Quảng.

Chiến tranh đã lùi xa. Chiến tranh đã lùi rất xa. Cuộc đời đã sang một trang khác. Con người cũng đã chuyển sang một trạng thái tinh thần khác. Nhưng dư ba của chiến tranh thì chưa hề ngưng trong mỗi tâm hồn. Cuộc sống mới với sự ồn ào, náo nhiệt cần có của dựng xây, kiến thiết, nhưng cũng cần có những giây phút bình yên như mặt biển “vùi sâu dưới đáy những gì đau thương”.

Thơ Mai Thìn, trong tập “Tạ lỗi với mây xanh”, là những nốt nhạc thầm lặng mà da diết, như tiếng vọng về của ký ức “tôi nợ cuộc đời này/ cả/ những thương đau” (Tiếng vọng đầu).

Tập thơ thể hiện tâm trạng của một người luôn mang trong mình ký ức sâu nặng trước những hy sinh to lớn của bao người trong chiến tranh và bày tỏ lòng trắc ẩn sâu xa với những nỗi đau mà chiến tranh để lại. Cuộc sống cần đi về phía trước, nhưng phía trước sẽ trở nên bất định, vì nếu không biết bắt đầu từ đâu thì cũng không biết sẽ đi đến đâu. Cho nên, với Mai Thìn, quá khứ chưa bao giờ “ngủ yên”.

Đó là khi anh bắt gặp những hàng phượng vỹ trên nghĩa trang Trường Sơn, ám tượng về sắc đỏ trước mặt đã đưa anh về “những bóng mắt người thân/ đỏ/ nhòe/ cành lá” (Hoa phượng ở nghĩa trang Trường Sơn). Đặt chân lên Côn Đảo, nơi xương thịt con người/ tươi màu máu, cảm giác “tôi nợ cuộc đời này” như thức dậy tận sâu trong anh: “từng hạt cát/ vun đầy tội ác/ chạm nơi nào cũng thấy/ dường/ có lỗi” (Ở Côn Đảo).

Ngược đường lên sông Lô nhìn thấy hàng hàng hoa gạo đỏ, anh liên tưởng đến những người “vớt từng xác gạo/ như vớt những hồn người/ đỏ thắm” (Ngược sông Lô). Lên muộn với Vị Xuyên, trong tâm hồn nhà thơ cảm giác xót xa, ân hận trước biên cương Tổ quốc “nơi biết bao chiến sỹ mấy vạn đốt xương/ hóa đá dọc chiến hào” (Tạ lỗi với mây xanh). Rồi trên quê hương anh, sự chết chóc, hy sinh như vẫn còn kia “đồng làng đầy máu/ bên gốc trâm xưa/ nấm đất em nằm/ ướt đỏ/ máu của em tôi” (Tìm em).

Chẳng ở đâu xa, trong ngôi nhà của mình, chiến tranh chất vấn anh hàng ngày với bao thương đau, ly tán: “Tôi có người ba chết trận/ bao nhiêu năm/ không mồ/ giỗ ông lần nào má tôi cũng khóc/ vừa thương ba/ vừa trách/ sao không để lại một nấm mồ/ làm chỗ/ cho cỏ lên” (Không mồ) và “bao nhiêu người/ mấy mươi năm/ không tìm được đường về/ chú tôi bên này/ còn ba tôi/ ở mãi phía bên kia” (Giỗ chung).

Có lần trong viện bảo tàng, trước những ngôi “mộ thủy tinh” cất giữ quái thai chất độc chiến tranh, anh thốt lên “triệu triệu người đến viếng/ tự thắp cho mình/ niềm kinh hãi xót xa” (Những ngôi mộ thủy tinh trong suốt). Trong bảo tàng chiến tranh, anh còn chứng kiến “những bà mẹ già/ người Ucraina/ người Nga/ người Mỹ/ đến đây/ ôm đứa con mình/ mà khóc/ trong bảo tàng chiến tranh/ những quả bom/ chứa đầy nước mắt” (Những quả bom chứa đầy nước mắt)

Cũng chẳng phải ngày trước, cái chết tức tưởi hôm nay trong thùng xe đông lạnh trên đường đi tìm “miền đất hứa” của cô gái trẻ Trà My; sự hy sinh của những con người lao động vì núi lở, đất sạt tại Rào Trăng cũng làm anh buốt đau “cơn mưa đêm qua không có nước/ ròng ròng máu/ và nước mắt/ đổ xuống Rào Trăng” (Cơn mưa không có nước). Anh còn bắt gặp người mài dao trên phố với dáng ngồi “một nửa chân phiêu bạt/ còn nửa kia/ mòn cụt đi rồi”.

Tập thơ "Tạ lỗi với mây xanh".

Hình như ở đâu, đi đâu, tại mọi không gian và thời gian, Mai Thìn cũng không quên cảnh “đất nước bao phen điêu linh/ đạn bom rồi giông bão nổi”; cũng ám thị một màu đỏ máu trong liên tưởng; cũng thảng thốt day dứt trong tâm thức về “bóng mắt” nơi bao người đã nằm xuống. Điều này tạo nên “sắc độ”, “mật độ” trong câu chữ của thơ anh “rưng rưng đỏ”, “đỏ nhòe cành lá”, “nhuộm đỏ trời biên giới”, “ròng ròng hoa đỏ”…

Nhưng không phải chỉ có một màu đỏ day dứt như thế, Mai Thìn còn có những câu thơ trẻ trung về một “ngày xưa” cứ tưởng thoáng qua mà giăng mắc cho đến tận mai sau: “Ngày ấy ta đi/ em còn tát nước bờ soi/ tóc chớm hồng hai má/ bao mùa cày chân rạ/ đợi ta về/ em thẩn thơ vành nón trắng” (Cánh chuồn tuổi thơ).

Những câu thơ đầy cảm kích về khoảnh khắc không quên trong cuộc đời “hòa bình về/ cờ hoa tở mở/ nhà tôi vọng tiếng chuông/ nghi ngút” (Má tôi và những tiếng chuông). Và một sắc vàng lo âu mòn mỏi của bao bà mẹ trong buổi chiều tưởng tượng trên bến tàu: “chiều vàng/ nắng tàn trên tóc mẹ/ sóng bạc màu/ nhẫn nại chờ mong” (Chuyến tàu không bao giờ có).

Nhà thơ Mai Thìn còn sở hữu niềm vui được tận hiến nơi quê nhà với bao giản dị mà bền chặt, yêu thương: “đời rơm rạ còn cho hơi ấm/ một sợi khói thôi/ tuyệt tác bức tranh làng/ tận hiến/ xác thân tàn rữa/ dồn yêu thương/ rực rỡ mùa màng” (Bạn với nhà nông)

Những bài thơ trong tập “Tạ lỗi với mây xanh” hầu hết được viết từ khoảng dăm năm gần đây, tập trung nhiều vào chủ đề chiến tranh và sự hy sinh to lớn, cho thấy dù chiến tranh đã lùi xa vẫn còn nhức buốt trong trái tim người đang sống. Cảm hứng chủ đạo của tập thơ là nỗi xót xa với mất mát, nỗi ân hận của hậu thế, sự biết ơn với người ngã xuống, và những bài học về chiến tranh luôn phải ghi nhớ. Tất cả hình như đang đè nặng trên sứ mệnh của những câu thơ, nhắc nhở chúng ta rằng trên trái đất bé nhỏ này chưa bao giờ ngừng bom đạn, chết chóc.

Nhà thơ Mai Thìn có một tuổi thơ trải qua đạn bom tàn khốc, cho nên  ký ức về chiến tranh đã lùi xa là những vết thương sâu trong tâm hồn, thôi thúc anh cầm bút. Dù biết đề tài chiến tranh và hậu chiến đã được nhiều tác giả khai thác thành công, nhưng với trách nhiệm của một cây bút đang cống hiến trên văn đàn với tư cách Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Bình Định, Mai Thìn vẫn trăn trở không ngừng để có thêm những đóng góp mới.

Lê Thành Nghị
Tin khác
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây

Những chiếc trống của làng trống Bình An đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ những nghệ nhân tài hoa, nhưng nơi đây đang mong mỏi lớp người kế nghiệp.

Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?
Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?

Cụ Kép Trà tài năng, đức độ, lại có chút ngạo nghễ, bất cần đời. Nhân một buổi bình Truyện Kiều, các quan lại cho rằng cụ mượn thơ mắng quan lại Triều Nguyễn

Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.