Cập nhật mới nhất quy định về nhập khẩu thủy sản của thị trường EU

Quỳnh Chi - Linh Linh - Thứ Sáu, 02/08/2024 , 13:52 (GMT+7)

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển Thị trường (Bộ NN-PTNT) thông tin các quy định cần thiết để doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đáp ứng yêu cầu của châu Âu.

Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (NAFIQPM), cung cấp một số quy định mới của các thị trường trọng điểm nhập khẩu thủy sản. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Các thị trường trọng điểm nhập khẩu thủy sản yêu cầu sự kiểm soát của cơ quan thẩm quyền (CQTQ) nước xuất khẩu nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP). Để đáp ứng các yêu cầu này, các cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu phải được đánh giá và công nhận năng lực, cùng với việc lập danh sách các cơ sở chế biến xuất khẩu đạt tiêu chuẩn. Mỗi lô hàng xuất khẩu sẽ được thẩm định, lấy mẫu kiểm nghiệm và cấp chứng thư ATTP.

Việc tuân thủ các quy định cao về an toàn thực phẩm của EU đối với thủy sản nhập khẩu là thách thức lớn. Các lô hàng thủy sản của Việt Nam thường bị CQTQ của EU cảnh báo về hóa chất kháng sinh. Việt Nam cũng chưa khắc phục được “thẻ vàng” đối với hải sản trong Chương trình Chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU).

Yêu cầu về công nhận các cơ sở trong chuỗi bởi EU rất chặt chẽ, hiện nay chỉ có cơ sở chế biến và kho lạnh được đưa vào danh sách. Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm của các cơ sở cũng chưa đáp ứng đầy đủ các quy định của EU. 

Ngoài ra, các yêu cầu chặt chẽ đối với sản phẩm nhập khẩu (về chứng thư, kiểm soát theo chuỗi), đặc biệt là yêu cầu sản phẩm cá ngừ ngâm trong nước muối chỉ được dùng cho công nghiệp đồ hộp, gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Một số yêu cầu đặc thù

EU đã công nhận hệ thống kiểm soát ATTP thủy sản của Việt Nam và Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển Thị trường (NAFIQPM) là cơ quan thẩm quyền của Việt Nam trong việc kiểm soát thủy sản xuất khẩu vào EU. Các cơ sở trong chuỗi sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu phải được kiểm tra, công nhận đủ điều kiện bảo đảm ATTP và đáp ứng các quy định của EU. Đồng thời, các cơ sở này phải được lập danh sách để có thể xuất khẩu vào EU. Mỗi lô hàng xuất khẩu vào EU được thẩm định, lấy mẫu kiểm nghiệm và cấp chứng thư ATTP theo quy định của Thông tư 48/2013/TT-BNNPTNT của Bộ NN-PTNT (được sửa đổi bổ sung tại các Thông tư 32/2022/TT-BNNPTNT).

Mỗi lô hàng thủy sản xuất khẩu vào EU được thẩm định, lấy mẫu kiểm nghiệm và cấp chứng thư an toàn thực phẩm. Ảnh: Quỳnh Chi.

Một số yêu cầu đặc thù để xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU là:

  • Thủy sản nuôi: Phải xây dựng, triển khai và được EU công nhận Chương trình giám sát quốc gia về tồn dư hóa chất kháng sinh trong thủy sản nuôi.
  • Chương trình giám sát nhuyễn thể hai mảnh vỏ (NT2MV) vào EU phải xây dựng, triển khai và được EU công nhận an toàn vệ sinh vùng thu hoạch.
  • Hàng năm, cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu phải báo cáo EU kết quả triển khai Chương trình giám sát; định kỳ, cơ quan thẩm quyền EU sẽ sang thanh tra thực tế việc xây dựng và triển khai Chương trình.
  • Cơ quan thẩm quyền EU yêu cầu lập danh sách riêng đối với các cơ sở sản xuất đùi ếch, ốc, gelatine/collagen từ nguyên liệu thủy sản.
  • Yêu cầu lập danh sách với toàn bộ cơ sở tham gia trong chuỗi: cơ sở thu mua, sơ chế, kho lạnh, cơ sở chế biến, tàu cấp đông, tàu chế biến.
  • Quy định về chống khai thác IUU.
  • Quy định về điều kiện chung đảm bảo ATTP.

Các quy định về điều kiện chung đảm bảo ATTP

Quy định (EC) số 178/2002 đặt ra các nguyên tắc chung và yêu cầu cơ bản về luật thực phẩm và nghĩa vụ của việc kinh doanh thực phẩm trong EU. Quy định này bao gồm các biện pháp phòng ngừa, nguyên tắc về an toàn thực phẩm, các biện pháp khẩn cấp, yêu cầu ghi nhãn, minh bạch, thu hồi và truy xuất nguồn gốc, cũng như trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh thực phẩm (FBOs) và Hệ thống Cảnh báo Nhanh về Thực phẩm và Thức ăn Chăn nuôi (RASFF).

Quy định này nhấn mạnh tính minh bạch, với việc tham vấn công khai về các quyết định liên quan đến an toàn thực phẩm. Điều 18 quy định về truy xuất nguồn gốc, yêu cầu mỗi sản phẩm thực phẩm phải được truy xuất một bước trước và một bước sau trong chuỗi cung ứng. Nếu phát hiện ra vấn đề, sản phẩm phải được thu hồi ngay lập tức. Các quốc gia thành viên của EU chịu trách nhiệm thực thi luật pháp và giám sát việc tuân thủ các yêu cầu này, đảm bảo rằng chúng được thực hiện đầy đủ.

Đánh giá rủi ro trong quy định này dựa trên bằng chứng khoa học sẵn có và phải được thực hiện một cách độc lập, khách quan và minh bạch.

Quy định (EC) số 852/2004 về vệ sinh thực phẩm đặt ra các yêu cầu về thiết kế thiết bị, đào tạo nhân viên, chất lượng nước, lưu trữ hồ sơ, kiểm soát sâu bệnh, sử dụng hóa chất, HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn), và xử lý chất thải. Quy định này áp dụng cho tất cả các giai đoạn của chuỗi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, từ sản xuất đến tiêu thụ.

Người kinh doanh thực phẩm phải tuân thủ các nghĩa vụ về vệ sinh thực phẩm, bao gồm việc áp dụng các hướng dẫn quy phạm thực hành vệ sinh tốt và nguyên tắc HACCP. Các cơ sở kinh doanh thực phẩm phải được đăng ký và phê duyệt, và phải tuân thủ các quy định kiểm soát nhập khẩu được quy định trong (EC) số 178/2002.

Người kinh doanh thực phẩm phải tuân thủ các nghĩa vụ về vệ sinh thực phẩm, bao gồm việc áp dụng các hướng dẫn quy phạm thực hành vệ sinh tốt và nguyên tắc HACCP. Ảnh minh họa.

Quy định (EC) số 178/2002, còn được gọi là Luật Thực phẩm chung của EU, đặt ra các nguyên tắc và yêu cầu chung về an toàn thực phẩm, bao gồm phòng ngừa, các biện pháp khẩn cấp, ghi nhãn, minh bạch, thu hồi và truy xuất nguồn gốc, cùng với trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh thực phẩm (FBOs) và hệ thống cảnh báo nhanh RASFF. Luật này thiết lập các nguyên tắc chung và nghĩa vụ chung cho việc kinh doanh thực phẩm, đồng thời quy định cơ quan an toàn thực phẩm của EU sẽ đảm bảo tính minh bạch qua việc tham vấn công khai.

Một trong những yêu cầu quan trọng của quy định là truy xuất nguồn gốc, yêu cầu các cơ sở phải có khả năng xác định nguồn gốc thực phẩm một bước trước và một bước sau trong chuỗi cung ứng (Điều 18). Khi có sự cố xảy ra, các sản phẩm không an toàn phải được thu hồi. Các quốc gia thành viên EU sẽ thực thi luật pháp và giám sát, xác minh rằng các yêu cầu này được thực hiện đầy đủ.

Đánh giá rủi ro được thực hiện dựa trên bằng chứng khoa học sẵn có và được thực hiện một cách độc lập, khách quan và minh bạch.

Quy định EC 852/2004 về vệ sinh thực phẩm đặt ra các yêu cầu về thiết kế thiết bị, đào tạo nhân viên, chất lượng nước, lưu trữ hồ sơ, kiểm soát sâu bệnh, sử dụng hóa chất, HACCP và xử lý chất thải. Quy định này áp dụng cho tất cả các giai đoạn của chuỗi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, nhấn mạnh nghĩa vụ của người kinh doanh thực phẩm trong việc đảm bảo vệ sinh.

Người kinh doanh thực phẩm phải tuân theo các hướng dẫn quy phạm thực hành vệ sinh tốt và nguyên tắc HACCP. Tất cả các cơ sở phải được đăng ký và phê duyệt. Kiểm soát nhập khẩu được thực hiện theo quy định EC 178/2002. Quy định này cũng bao gồm các phụ lục với các quy tắc vệ sinh cụ thể cho sản xuất.

Quy định EC 853/2004 thiết lập các quy tắc vệ sinh cụ thể cho thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, bao gồm các quy tắc đối với sản phẩm thủy sản. Quy định này xác định rõ sản phẩm "chưa chế biến" và "đã chế biến", đồng thời yêu cầu phê duyệt và chấp thuận cơ sở để đảm bảo chỉ những cơ sở đã được phê duyệt mới được phép đưa sản phẩm ra thị trường.

Các sản phẩm phải có mã nhận diện và tuân theo các yêu cầu đặc biệt về điều kiện vệ sinh, bao gồm sản phẩm NT2MV sống, sản phẩm thủy sản, đùi ếch và ốc sên, collagen và gelatine, như được quy định trong các phụ lục của quy định.

Những quy định này giúp đảm bảo rằng các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu vào EU đáp ứng các tiêu chuẩn cao về an toàn và vệ sinh thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và duy trì uy tín của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Quy định EC 2073/2004 quy định về tiêu chí vi sinh đối với thực phẩm và Quy định EC 1441/2007 sửa đổi quy định EC 2073/2004. Các quy định này đặt ra các tiêu chuẩn vi sinh cụ thể mà thực phẩm phải tuân thủ để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.

Quy định (EC) 1881/2006 thiết lập mức giới hạn các chất ô nhiễm như kim loại nặng, dioxin, và các chất khác. Quy định EC 2021/1323 sửa đổi EC 1881/2006 liên quan đến mức tối đa của Cadmium trong thực phẩm và EC 2022/617 sửa đổi EC 1881/2006 liên quan đến mức tối đa của thủy ngân trong cá. Theo đó, hàm lượng thủy ngân trong cá từ mức 0,3 đến 1,0 mg/kg tùy thuộc vào loại cá, và hàm lượng thủy ngân trong muối ở mức 0,10 mg/kg.

Quy định (EC) 333/2007 quy định phương pháp lấy mẫu và phân tích các chất gây ô nhiễm chế biến trong thực phẩm, cụ thể là chì, cadmium, thủy ngân, thiếc vô cơ, 3-MCPD và benzo(a)pyrene. Quy định (EU) 2017/644 quy định phương pháp lấy mẫu và phân tích dioxins và PCBs.

Quy định (EC) 470/2009 thiết lập mức giới hạn tối đa dư lượng (MRLs) của các sản phẩm thuốc thú y trong thực phẩm có nguồn gốc động vật, và Quy định EC 396/2005 thiết lập MRL đối với thuốc trừ sâu. Quy định 37/2010 thiết lập danh sách các chất bị cấm và được phép sử dụng trong thực phẩm có nguồn gốc động vật.

Quy định EC 1333/2008 quy định về quản lý và sử dụng phụ gia, chất hỗ trợ chế biến trong thực phẩm. Quy định này đặt ra các tiêu chuẩn cụ thể đối với phụ gia thực phẩm như phẩm màu, chất làm dày và hương liệu.

Quy định EC 1169/2011 quy định về thông tin ghi nhãn thực phẩm. Các thông tin bắt buộc phải thể hiện trên nhãn bao gồm: tên của sản phẩm (bao gồm tên thương mại và tên khoa học), danh mục thành phần, thông tin về dị ứng, thực phẩm biến đổi gen, nguồn gốc xuất xứ, khối lượng tịnh, hạn sử dụng, mã số phê duyệt của EU và nhận diện lô.

EU đã đổi mới hệ thống kiểm soát nhà nước với sáng kiến "Quy định thông minh hơn cho thực phẩm và sức khỏe thực vật an toàn hơn" nhằm nâng cao hiệu quả trong kiểm soát thực phẩm và sức khỏe thực vật. Ảnh minh họa.

Một số quy định mới của EU về nhập khẩu thủy sản

EU đã đổi mới hệ thống kiểm soát nhà nước với sáng kiến “Smarter rules for safer food and plant health” (Quy định thông minh hơn cho thực phẩm và sức khỏe thực vật an toàn hơn) nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn trong kiểm soát thực phẩm và sức khỏe thực vật. Ba quy định nền đã được ban hành gồm Quy định kiểm soát nhà nước OCR: (EU) 2017/625; Quy định sức khỏe động vật AHR: (EU) 2016/429; Quy định sức khỏe thực vật PHR: (EU) 2016/2031.

Từ ngày 14/12/2019, hầu hết các điều khoản của OCR và PHR đã có hiệu lực. Từ ngày 21/4/2021, AHR chính thức có hiệu lực.

Quy Định (EU) 2017/625 đảm bảo thực hiện luật thực phẩm và chăn nuôi, mở rộng phạm vi và hài hòa hóa quy định đối với sản phẩm động vật, động vật sống, thực vật và thực phẩm nguy cơ cao không có nguồn gốc động vật. Quy định này thay thế Quy định 882/2004, Quy định 854/2004, Chỉ thị 96/23/EC, 97/78/EC và 91/496/EC. Theo Điều 127(3) của quy định này, các cơ sở muốn xuất khẩu vào EU phải được lập danh sách.

Hệ thống thông tin quản lý cho kiểm soát nhà nước (IMSOC) đã được thiết lập để quản lý thông tin liên quan đến kiểm soát nhà nước.

Quy Định (EU) 2019/625, được sửa đổi bởi Quy định 2022/2292, đề ra các điều kiện nhập khẩu đối với các lô hàng sản phẩm có nguồn gốc động vật như thủy sản, NT2MV và sản phẩm composite, áp dụng từ ngày 21/4/2021.

Quy Định (EU) 2019/627 được sửa đổi bởi Quy định 2022/2503, đặt ra các yêu cầu thực hiện kiểm soát đối với NT2MV (Điều 51-65) và các biện pháp kiểm soát thủy sản (Điều 67-71).

Ngoài ra, các yêu cầu về sản phẩm composite cũng được nêu rõ trong Quy định EC Số 2019/625 và 2020/692. Sản phẩm composite là sản phẩm thực phẩm có thành phần chứa cả sản phẩm có nguồn gốc thực vật và sản phẩm chế biến có nguồn gốc động vật, được quy định tại Điều 2 Quy định EU 2019/625. Các mã HS tương ứng bao gồm: 1601, 1602, 1603, 1604, 1605, 1901, 1902, 1905, 2004, 2005, 2103, 2104, 2105, 2106.

Phân loại sản phẩm composite dựa trên rủi ro về sức khỏe cộng đồng và sức khỏe động vật, không dựa trên tỷ lệ phần trăm các thành phần có nguồn gốc động vật như trước đây, được quy định tại Điều 162 và 163 Quy định 2020/692. Bao gồm ba loại chính:

  • Sản phẩm non-shelf-stable composite: Sản phẩm được bảo quản/vận chuyển dưới điều kiện phải kiểm soát về nhiệt độ, theo Điều 12 Quy định 2019/625.
  • Sản phẩm shelf-stable composite chứa thịt trong thành phần: Sản phẩm không yêu cầu kiểm soát nhiệt độ khi bảo quản/vận chuyển.
  • Sản phẩm shelf-stable composite không chứa thịt trong thành phần

Một số điều kiện để được xuất khẩu sản phẩm composite là cơ sở sản xuất phải nằm trong danh sách được EU công nhận. Nếu sản phẩm chứa thịt, sản phẩm từ sữa, trứng và các sản phẩm từ chúng, thì phải được sản xuất từ quốc gia và cơ sở được EU công nhận xuất khẩu (bao gồm chương trình dư lượng, kiểm soát dịch bệnh, v.v…) theo danh sách tại Quy định 2021/405 và 2022/2293.

Sản phẩm shelf-stable composite không chứa thịt chế biến phải chứa các sản phẩm chế biến có nguồn gốc động vật khác với thịt chế biến và được xử lý nhiệt theo quy định của EU 2020/692.

Quá trình kiểm soát nhập khẩu bao gồm một loạt các bước nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và tuân thủ các quy định hiện hành. Đầu tiên, tài liệu đi kèm với lô hàng sẽ được kiểm tra kỹ lưỡng. Tiếp theo, kiểm tra danh tính được thực hiện để đảm bảo giấy chứng nhận hoặc các tài liệu phù hợp với sản phẩm. Cuối cùng, sản phẩm sẽ được kiểm tra trực tiếp, bao gồm việc kiểm tra bao bì, nhiệt độ, lấy mẫu và kiểm nghiệm. Sau khi hoàn tất các bước trên, kết luận về kết quả kiểm tra sẽ được đưa ra.

Quỳnh Chi - Linh Linh
Tin khác
5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 3] Xuất khẩu không khó nếu chuẩn bị sớm
5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 3] Xuất khẩu không khó nếu chuẩn bị sớm

Theo Tham tán Vũ Cường, nếu chủ động theo dõi thông tin và chuẩn bị sớm, doanh nghiệp Việt hoàn toàn có khả năng đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường Nhật Bản.

Việt Nam đề xuất thúc đẩy hợp tác nông nghiệp số ASEAN - Trung Quốc
Việt Nam đề xuất thúc đẩy hợp tác nông nghiệp số ASEAN - Trung Quốc

Tại Hội nghị Kinh tế số toàn cầu 2026, Tham tán Đỗ Quang Tùng đề xuất ASEAN và Trung Quốc đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp số, ứng dụng AI và thương mại điện tử.

5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 2] Động lực mới của thương mại Việt-Hàn
5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 2] Động lực mới của thương mại Việt-Hàn

Trong cấu trúc thương mại Việt-Hàn, nông sản có tốc độ tăng trưởng năng động nhất, góp phần hiện thực hóa mục tiêu thương mại song phương đạt 150 tỷ USD vào năm 2030.

5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 1] Tâm thế của nông nghiệp thời đại mới
5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 1] Tâm thế của nông nghiệp thời đại mới

Hướng tới mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ USD nông sản vào năm 2030, bên cạnh đa dạng hóa thị trường, cần xác định Trung Quốc là một trong những thị trường trọng điểm.

Những vị sứ thần mang hạt giống tương lai
Những vị sứ thần mang hạt giống tương lai

Vừa qua, 3 cán bộ ngành nông nghiệp được cử đi làm tham tán tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Đó là những 'sứ thần nông nghiệp' của thời đại mới.

USSEC kết nối doanh nghiệp khu vực trong chuỗi cung ứng dầu thực vật
USSEC kết nối doanh nghiệp khu vực trong chuỗi cung ứng dầu thực vật

Hội thảo cập nhật xu hướng nguồn cung, tiêu dùng, dinh dưỡng và các ứng dụng của dầu đậu nành trong ngành thực phẩm hướng tới nền tảng bền vững.

Thanh toán xuyên biên giới thúc đẩy thương mại nông sản Việt - Trung
Thanh toán xuyên biên giới thúc đẩy thương mại nông sản Việt - Trung

Bài thuyết trình của bà Châu Diệp, Tổng Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp Hongkong (Trung Quốc) tại Hà Nội tại Diễn đàn kết nối thương mại nông sản Việt Nam – Trung Quốc lần thứ I, TP Hồ Chí Minh ngày 24/6/2026.

Xây dựng cơ chế công nhận lẫn nhau trong nông nghiệp Việt - Trung
Xây dựng cơ chế công nhận lẫn nhau trong nông nghiệp Việt - Trung

Tham luận của ông Lương Đức Vinh, Tập đoàn Kiểm định và Chứng nhận Trung Quốc khu vực Tây Nam, tại Diễn đàn kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc.

Chính sách và hoạt động xúc tiến thương mại rau quả sang thị trường Trung Quốc
Chính sách và hoạt động xúc tiến thương mại rau quả sang thị trường Trung Quốc

Thuyết trình của ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), tại Diễn đàn kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc, TP.HCM, ngày 24/6/2026.

Định hướng phát triển ngành Rau quả Việt Nam giai đoạn mới
Định hướng phát triển ngành Rau quả Việt Nam giai đoạn mới

TP.HCM Bài thuyết trình của ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tại Diễn đàn kết nối thương mại nông sản Việt Nam – Trung Quốc lần thứ I, TP Hồ Chí Minh ngày 24/6/2026.

Hợp tác thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc đang được nâng tầm
Hợp tác thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc đang được nâng tầm

Phát biểu của ông Hà Vĩ, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam tại Diễn đàn kết nối thương mại nông sản Việt Nam – Trung Quốc lần thứ I, TP Hồ Chí Minh ngày 24/6/2026.

CEO WWF-Hàn Quốc: Kết nối doanh nghiệp hành động vì thiên nhiên Việt Nam
CEO WWF-Hàn Quốc: Kết nối doanh nghiệp hành động vì thiên nhiên Việt Nam

WWF mong muốn cùng các đối tác tìm kiếm những giải pháp thiết thực, tạo ra lợi ích hài hòa cho doanh nghiệp, cộng đồng địa phương và thiên nhiên.