Bữa đó, mây trắng rủ ngang đầu, vắt ngang cổ núi, nắng trải vàng trên thung lũng Sín Thầu; nơi rừng già dựng thành vách xanh ôm lấy bản Tả Ko Khừ. Hơi thở của rừng hoang sơ và kỳ vĩ, tạo nên vũ khúc của đại ngàn. Với người Hà Nhì, rừng không chỉ là không gian sinh tồn, mà còn là một thực thể sống, có linh hồn, có ký ức.
Pờ Dần Xinh - Người yêu rừng xuyên qua nhiều thập kỷ
Giữa không gian ấy, câu chuyện về rừng không còn là khái niệm trừu tượng, mà hiện thân trong một con người cụ thể. Trưởng bản Mạ Xào Hòa, đăm chiêu nhấp từng ngụm rượu ngâm rễ cây; tiếng khê nồng như tiếng con cóc lạc vào màn sương dày đặc. Càng về khuya trời càng lạnh, cái lạnh của gió núi sắc lẹm rít lên vun vút lao vào vách núi, cái lạnh của mênh mông thượng ngàn hoang dã tuôn ra từ ruột núi, buốt như mũi kim châm. Làm cho chén rượu đón khách nồng cay, sóng sánh có thêm nhiều vỡ vụn.
Vị chủ nhà có cái tên rất Hà Nhì: Pờ Dần Xinh. Giám đốc Ban Quản lý khu Dự trữ Bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé, Diệp Văn Chính bảo với tôi: “Pờ Dần Xinh là một đặc sản của Sín Thầu”.
Ông Pờ Dần Xinh, bản Tả Ko Khừ, xã Sín Thầu. Ảnh: Hoàng Châu.
Pờ Dần Xinh mở đầu câu chuyện bằng nỗi xót xa: “Tôi chưa già lắm đâu, năm nay mới 67 tuổi thôi. Nhưng bệnh tật cũng theo mình 18 năm nay rồi: gút, khớp rồi mắt mình cũng kém. Bố mẹ sinh ra mình coi như được một trăm phần trăm, giờ mình chắc còn khoảng ba mươi phần trăm sức khỏe thôi… Rồi cũng phải đến lúc nằm lại với rừng”.
Nhọ mặt người, ông đi xe máy xuống chân dốc dẫn đường cho chúng tôi lên ao, rồi gọi trưởng bản lên cùng “ăn diệu”. Ông nhớ từng chi tiết, từ thuở người Hà Nhì đua nhau phá rừng làm rẫy, trồng thuốc phiện, rồi lại bảo nhau bảo vệ rừng. Ông từng là trưởng bản, nguyên chủ tịch xã rồi Bí thư Đảng ủy xã Sín Thầu cho đến lúc nghỉ hưu.
Chắp nối câu chuyện từ nhiều mẩu kể thì ra được Pờ Dần Xinh người gốc Hà Nhì, sinh ra trong một gia đình đông con. Bố ông từng tham gia tiễu phỉ từ những thập kỷ 70. Anh em ông đều là những người học hết cấp 3, rồi đi làm cán bộ tỉnh, cán bộ huyện, xã, được coi là dòng họ uy tín nhất của dân tộc Hà Nhì trên đất Mường Nhé (huyện cũ), tỉnh Điện Biên.
Năm 1997, người Hà Nhì đang yên ổn bỗng đâu nạn ma túy tràn về như lũ, đi đâu cũng thấy người nghiện. Bản Tả Ko Khừ của ông như người lên cơn sốt, cả ngày rình rập kẻ trộm gà, trộm chó. Đôi mắt người Hà Nhì nhìn ai cũng thấy xấu. Những cánh rừng sâu có thân gỗ to bị hạ xuống để trồng cây thuốc phiện. Cả bản Tả Ko Khừ khi ấy có 105 người nghiện, trong số ấy có cả mẹ vợ của ông nghiện thuốc phiện 37 năm. Lấy vai trò người đứng đầu chính quyền xã Sín Thầu, ông đăng ký với cán bộ đồn biên phòng và lãnh đạo huyện Mường Nhé (cũ), đưa toàn bộ người nghiện trong xã đi cai. Ban đầu, ai cũng thấy lo cho Pờ Dần Xinh, vì cai nghiện đâu phải việc dễ làm…
Trước chủ trương tách bản mới Tả Ló Sang, cách Trung tâm xã Sín Thầu đi bộ khoảng 2 ngày đường, Pờ Dần Xinh lập kế hoạch đưa toàn bộ người nghiện tuổi từ 45 trở xuống, sức đề kháng còn tốt lên bản mới cai. Mục đích, vừa cai nghiện vừa khẩn hoang, dựng nhà, làm đường… lập bản mới. Đồn biên phòng hỗ trợ cán bộ quản lý quân số, quân y và thuốc men cắt cơn… Số người nghiện tuổi cao như mẹ vợ ông thì đưa về trung tâm xã tổ chức cai tập trung.
Một góc ảnh chụp rừng Sín Thầu. Ảnh: Hoàng Châu.
Ông Xinh dừng lại cảm xúc: “Trong số cai nghiện ấy, cai cho mẹ vợ tôi là khổ nhất, 3 lần mới thành công”. Rồi ông bảo: “Nguyên trưởng bản Vù Vù Sinh, tôi cũng cai cho “thằng đấy”, bực mình muốn chết”. Đương kim Trưởng bản Mạ Xào Hòa ngồi kế bên gật đầu xác nhận: “Ngày ấy bác Xinh mà không làm thế thì bản này toàn người nghiện to”.
Những câu chuyện tưởng như đời thường ấy, thực ra là lát cắt dữ dội nhất của một giai đoạn mà rừng và người cùng bị thương tổn.
Thâu đêm, Pờ Dần Xinh nói về đời mình, về đời người ở Sín Thầu bao phen chìm nổi từ vấn nạn cây thuốc phiện, rồi nạn phá rừng tràn lan… Càng phá rừng, đời người Hà Nhì càng nghèo quệt quệ; mỗi trận mưa, lớp mùn bị rửa trôi để trơ lại những sỏi ruồi… Lâu ngày, đất trồng trở thành hoang hóa.
Xưa, thác nước ở phía đầu nguồn dòng Mo Phí nơi ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào đổ con dốc lao ầm ầm, gây âm vang sức vóc tự nhiên. Suối là nguồn năng lượng tắm mát cho nhiều diện tích lúa nước, rau màu ở Sín Thầu; bao mùa màng bội thu, tôm cá đầy suối, nuôi sống bao thế hệ người Hà Nhì có một phần năng lượng từ suối.
Nay, suối buồn thiu nằm trơ đáy. Người dân Hà Nhì hoang mang, nhẩm tính sự thất bát bủa vây, bao đời nay đều sống nhờ vào nguồn nước từ suối. Khi rừng mất đi, dòng nước không chỉ cạn dưới chân núi, mà còn cạn trong niềm tin của con người. Bản Tả Ko Khừ buồn rong, rêu vì chưa tìm ra được hướng đi cho đời mình và đời con cháu. Pờ Dần Xinh lại đau đáu, tìm cách nói về rừng như nhắc lại câu chuyện của người thân. Ông lại cùng cán bộ biên phòng đến từng nhà nói chuyện về rừng, về suối…. “không còn con đường nào khác, mình phải giữ rừng thôi”.
Đi qua bao mùa con trăng khuyết lại đầy, Chủ tịch xã Pờ Dần Xinh và cán bộ, chiến sĩ biên phòng ngày ấy đã đến không biết bao nhiêu nhà. Mỗi nhà đến không biết bao nhiêu lần. Và chỉ khi bản Tả Ko Khừ, cả xã Sín Thầu phá triệt để cây anh túc, cai nghiện được cho dân, giữ rừng là giữ nguồn nước, Pờ Dần Xinh mới yên vị, tròn vai.
Người Hà Nhì yêu rừng… mà hình thành nên bản quán
Nếu giữ rừng là niềm vui của đời cha thì thành quả hôm nay là niềm hãnh diện của đời con. Sự kế tiếp của khổ công lao động không chỉ là sức lực, mồ hôi hình thành nên bản quán, gây dựng nên một cộng đồng biết tựa vào rừng để tồn tại, đi lên.
Bây giờ, Pờ Dần Xinh đã lui lại phía sau, như một mốc son của ký ức, để thế hệ trẻ như Trưởng bản Mạ Xào Hòa kế tiếp. Hòa nói trong niềm vui phấn khích: “Diện tích rừng giao cho bản quản lý hiện nay là hơn 2.500 ha; bản quản lý chung chứ không phải của riêng hộ nào. Công tác quản lý rừng thì chủ yếu là bảo vệ, giữ rừng, tuần tra, kiểm tra địa bàn. Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thì chia cho các hộ gia đình. Mỗi hộ cử một người tham gia tuần tra rừng thường xuyên.
Bình thường mỗi tháng đi tuần tra một lần, còn khi có cháy rừng hay sự cố thì cả bản cùng đi. Cách làm này duy trì từ bấy đến bây giờ. Mỗi hộ một năm được gần 20 triệu đồng, có bản thì được nhiều hơn vì ít rừng bị xâm hại. Tiền này là nguồn thu thường xuyên, mỗi năm chi trả hai đợt. Bản mình bắt đầu được nhận tiền từ năm 2014. Từ đó đến nay, người dân có thu nhập đều đều từ rừng. Có hộ mỗi năm được hơn 20 triệu, có hộ được khoảng 30-40 triệu nếu có thêm nguồn từ rừng ở khu Dự trữ bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé".
Như để nói rõ hơn bản chất của nguồn sinh kế ấy, Trưởng bản Hòa cắt nghĩa: “Tức là có hai nguồn: một là tiền dịch vụ môi trường rừng, hai là tiền từ các chương trình bảo tồn. Nhưng cũng có nhà không còn lao động chính thì khó tham gia tuần tra. Có hộ phải nhường suất cho người khác đi thay để có tiền. Chia thì vẫn phải công bằng, nhưng thực tế cũng phát sinh nhiều chuyện phức tạp. Ngày xưa bà con hay nói tiền này là ‘tiền trời cho’, đi tuần tra về là có tiền, không bị trừ gì cả, nên ai cũng thích. Mỗi tháng đi một lần, vừa đi giữ rừng vừa có thu nhập. Nhờ nguồn tiền này mà tỷ lệ hộ nghèo của bản Tả Ko Khừ giảm mạnh, còn khoảng 20%".
Phía sau những con số ấy không chỉ là câu chuyện về kinh tế rừng. Đó còn là chiều sâu tín ngưỡng đã bám rễ trong đời sống người Hà Nhì tự bao đời. Những con số tưởng như khô khan ấy, thực chất là thước đo cho sự hồi sinh của một cộng đồng từng đứng bên bờ đổ vỡ.
Tuần tra rừng tại vùng đệm khu Dự trữ bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Ảnh: Hoàng Châu.
Trong tín ngưỡng của người Hà Nhì có tục thờ thần rừng; ở mỗi bản lại có một khu rừng thiêng, không ai được chặt phá. Đặc biệt, vào tháng 2 âm lịch hằng năm, người Hà Nhì nơi đây lại tổ chức Lễ cúng bản (hay còn gọi là lễ Gạ Ma Thú) - nghi lễ lớn, quan trọng nhất trong năm. Lễ hội nhằm cầu cúng các vị thần, trong đó có thần rừng thiêng và tổ tiên, phù hộ cho năm mới mưa thuận gió hòa, bản làng yên ổn, mọi người mạnh khỏe, làm ăn gặp nhiều may mắn. Trong những ngày này, người Hà Nhì dừng các công việc trên nương rẫy, không gây mất đoàn kết, không ăn thịt thú rừng, không bắt hoặc mang vào bản các con vật sống trong hang, lòng đất để tránh rủi ro cho dân trong bản…
Người Hà Nhì luôn tâm niệm: rừng là mạch sống bền lâu; sinh sống nhờ rừng, có nhà để ở cũng nhờ rừng, có nước uống cũng từ rừng. Rừng không chỉ nuôi thân mà còn giữ vía người Hà Nhì. Nếu không bảo vệ được rừng thì cuộc sống cũng không được lâu dài. Lẽ đó mà cộng đồng người Hà Nhì chung sức giữ rừng, duy trì tỷ lệ che phủ rừng của xã Sín Thầu đạt trên 73%.
Ngay từ thuở lọt lòng, những đứa trẻ Hà Nhì đã được mẹ khắc ghi vào tiềm thức việc gìn giữ rừng qua những làn điệu hát ru. Bằng tiếng hát ngọt ngào, người mẹ dạy con chỉ thu hái những nông sản mình trồng được, không chặt phá cây to, không xâm hại những cây gỗ quý, và phải xem rừng như “người mẹ thiên nhiên” nuôi dưỡng chính cuộc sống của mình.
Tôi nhớ lại cuộc trò chuyện cách đây không lâu với cô cán bộ văn hóa Pờ Xí Mé, cũng là một người con của xã Sín Thầu. Trong rất nhiều câu chuyện cô kể về dân tộc mình - từ những cuộc tiễu phỉ, khẩn hoang cho đến các phong tục giữ rừng - luôn hiện lên niềm tin rằng thần rừng đã bảo vệ người dân trong bản an vui qua nhiều thế hệ. Họ tự hào không chỉ vì giữ được rừng, mà vì đã sống tử tế với rừng để được rừng trả ơn.
Rừng đối với đại bộ phận người Hà Nhì ở Mường Nhé không chỉ là yếu tố tâm linh chở che bản làng. Rừng cho nước ngọt, chở che bộ đội, và từng vây kín bước chân quân thù. Rừng đã bao lần che chở cho bộ đội, cho người dân bản Tả Ko Khừ trong những năm tiễu phỉ của thập kỷ 70.
Sáng, sương còn vấn vít mơ màng trên các lùm cây, mây trắng bồng bềnh vắt ngang cổ núi. Những ngôi nhà trình tường người Hà Nhì nay đã thay bằng vách gỗ, mái tôn xanh đỏ lô nhô bám dọc quốc lộ 4H. Rừng dựng thành vách bao quanh thung lũng Sín Thầu, sương rơi ẩm ướt. Dòng chảy của thời gian đã đổi thay dáng vẻ bản làng, khi mô hình chính quyền hai cấp được thực hiện, xã Sín Thầu sáp nhập cùng xã Leng Su Sìn và Sen Thượng, tên xã vẫn giữ nguyên Sín Thầu. Trụ sở làm việc của xã chuyển về Trung tâm xã Leng Su Sìn, còn trụ sở xã Sín Thầu cũ nay trở thành lớp học mầm non.
Ông Đặng Ngọc Bảo, quyền Trưởng phòng quản lý bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, khu Dự trữ bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Ảnh: Hoàng Châu.
Trong cùng không gian ấy, 46.000 ha rừng đặc dụng thuộc Ban Quản lý Khu Dự trữ Thiên nhiên Mường Nhé trải dài qua các địa danh Sín Thầu, Mường Nhé và Nậm Kè, với độ che phủ rừng đạt 77,8%. Ở nơi này, Đặc Ngọc Bảo - quyền Trưởng phòng Ban Quản lý Khu Dự trữ - quê gốc Nghệ An, nhận nhiệm vụ từ năm 2014 và đã gửi trọn tuổi trẻ của mình giữa non cao. Anh bảo: “Mình rất thích nghề điện ảnh, nhưng không hiểu sao lại gắn bó với rừng”.
Bảo thuộc tên từng loài, tính cách từng cây trong khu bảo tồn. Mỗi khi mùa khô hanh nắng hạn, rừng thay lá, là lúc các anh phải căng mình trực chiến 24/24. Có những thời điểm, mấy tháng liền chỉ ở trong rừng. “Nơi nào có khói bốc lên là bọn em lại giật mình, lắm khi đang ngủ cũng mơ mình đi chữa cháy rừng”.
Rời Sín Thầu khi mặt trời tròn bóng, cạnh bìa rừng, thiếu nữ Pờ Nhù Khò địu con, nụ cười giòn tan sau nhịp tay vẫy. Bóng ai đổ dài trên rẫy, in hằn lên đất đôi bàn chân khuyết. Nơi ấy, rừng đã xanh thâm u ngay cả khi mặt trời đứng bóng, gió hát vi vu, kể về những vạt già rừng lặng lẽ giữ lấy những phận người Hà Nhì - như đã từng giữ họ từ thuở khai sinh. Giữa biến thiên của thời gian, có những thứ không đổi thay - đó là rừng và cách con người biết cúi đầu trước xanh thẫm đại ngàn.



























