Những định hướng lớn, đúng và trúng
Nghị quyết số 85/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 219-KL/TW tiếp tục triển khai Nghị quyết 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành vào thời điểm nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển mình mạnh mẽ hơn.
Sau nhiều năm là trụ đỡ của nền kinh tế trong những giai đoạn khó khăn, nông nghiệp giờ đây không chỉ mang sứ mệnh bảo đảm an ninh lương thực hay tạo sinh kế cho hàng chục triệu cư dân nông thôn, mà còn phải trở thành một động lực tăng trưởng mới, một khu vực kinh tế hiện đại, xanh, giá trị gia tăng cao và có sức cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường quốc tế.
Cơ hội lớn nhất mà Nghị quyết số 85/NQ-CP mở ra là giúp nông nghiệp Việt Nam chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp hiện đại. Ảnh: Hồng Thắm.
Điểm nổi bật của Nghị quyết là xác lập rõ mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; Duy trì đà tăng trưởng cao của xuất khẩu nông sản; Nâng cao vị thế nông dân; Xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững. Đồng thời chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và hướng tới nền kinh tế xanh.
Đây là những định hướng lớn, đúng và trúng. Nhưng cũng phải thẳng thắn rằng, từ một Nghị quyết đúng đến một kết quả thực tế luôn là quãng đường không ngắn. Cơ hội rất rõ, song yêu cầu cao hơn, thách thức cũng lớn hơn. Điều ngành nông nghiệp cần lúc này không chỉ là thêm một chủ trương mạnh, mà là một năng lực thực thi mới, đủ sức đưa chủ trương ấy đi trọn đến đồng ruộng, vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp và đời sống người nông dân.
"Điều ngành nông nghiệp cần lúc này không chỉ là thêm một chủ trương mạnh, mà là một năng lực thực thi mới, đủ sức đưa chủ trương ấy đi trọn đến đồng ruộng, vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp và đời sống người nông dân".
PGS.TS, Chuyên gia kinh tế Ngô trí Long
Cơ hội lớn nhất là chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp
Điều đáng chú ý nhất của Nghị quyết 85/NQ-CP là tư duy phát triển đã được đẩy lên một nấc mới. Nông nghiệp không còn được nhìn đơn thuần là khu vực sản xuất truyền thống, mà phải vận hành theo logic của kinh tế nông nghiệp hiện đại.
Nói cách khác, mục tiêu không chỉ là làm ra nhiều hơn, mà là tạo ra giá trị lớn hơn. Không chỉ trồng được, nuôi được, mà phải bán được với giá tốt, xây dựng được thương hiệu, tham gia được chuỗi giá trị và thích ứng được với các tiêu chuẩn mới của thị trường thế giới.
Nghị quyết đã nêu rõ yêu cầu đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản; Chuyển đổi từ nông sản giá trị thấp sang nông sản giá trị cao; Xây dựng những vùng nguyên liệu lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát thải thấp; Tổ chức lại sản xuất theo vùng chuyên canh gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, vùng nuôi và yêu cầu của thị trường. Chính ở đây mở ra cơ hội lớn cho nông nghiệp Việt Nam.
Điểm nghẽn lớn nhất của phát triển nông nghiệp hiện nay không chỉ là thiếu nguồn lực, mà còn là khoảng cách giữa chủ trương đúng và năng lực thực thi ở cơ sở. Ảnh: Hồng Thắm.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, lợi thế về lao động rẻ hay sản lượng lớn sẽ không còn đủ để bảo đảm vị thế dài hạn. Điều quyết định là khả năng tạo giá trị gia tăng, mức độ minh bạch của chuỗi cung ứng, chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứng các chuẩn mực xanh, sạch, bền vững. Nếu tận dụng tốt, nông nghiệp Việt Nam có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới, nơi người nông dân không chỉ là người sản xuất nguyên liệu thô mà trở thành chủ thể tham gia vào chuỗi giá trị có tổ chức, có công nghệ và có khả năng thương lượng tốt hơn.
Một cơ hội quan trọng khác là Nghị quyết đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm. Nghị quyết yêu cầu triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Khắc phục điểm nghẽn pháp chế; Cắt giảm mạnh điều kiện, thủ tục hành chính; Ưu tiên các lĩnh vực có khả năng tạo đột phá như công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, viễn thám. Đồng thời xây dựng các nền tảng dữ liệu dùng chung về đất đai, tài nguyên nước, rừng, khí tượng thủy văn, đa dạng sinh học và các hệ thống dự báo, cảnh báo thông minh.
Nếu được triển khai thực chất, đây sẽ là lực đẩy mạnh giúp nông nghiệp thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào kinh nghiệm, tài nguyên và lao động giản đơn, chuyển sang mô hình dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ.
Muốn đi xa, phải vượt qua những "điểm nghẽn" đã tồn tại nhiều năm
Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành kết quả khi ngành nông nghiệp vượt qua được những nút thắt cũ mà lâu nay vẫn chưa được xử lý triệt để.
Nút thắt đầu tiên là thể chế và chính sách. Nghị quyết đã nêu rõ yêu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành; Tháo gỡ những điểm nghẽn nhất là về vốn, đất đai, công nghệ; Hoàn thiện cơ chế về thuế, bảo hiểm nông nghiệp, đất đai, đầu tư; Khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn; Đầu tư kho bãi, logistics để tránh đứt gãy chuỗi cung ứng nông sản, thủy sản; Có chính sách hỗ trợ để người dân, doanh nghiệp yên tâm sản xuất, kinh doanh trong trường hợp thị trường biến động.
Một cơ hội quan trọng khác là Nghị quyết đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm. Ảnh: Hồng Thắm.
Việc Nghị quyết nhấn mạnh các nội dung này cho thấy đây chính là những điểm nghẽn thực tế. Nhiều năm qua, nông nghiệp Việt Nam tăng khá mạnh về sản lượng và xuất khẩu, nhưng vẫn thiếu một nền tảng thể chế đủ thông thoáng, ổn định và đồng bộ để hút mạnh dòng vốn đầu tư dài hạn. Đất đai còn manh mún; Liên kết giữa hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp còn lỏng; Chế biến sâu và logistics còn yếu; Rủi ro thị trường, thời tiết và dịch bệnh luôn thường trực... Trong khi đó, không ít nhà đầu tư còn e ngại vì rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài, thủ tục và khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ chưa thực sự thuận lợi.
Nút thắt thứ hai là năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở. Nghị quyết đã yêu cầu phân định rõ vai trò của chính quyền địa phương các cấp, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, nâng cao năng lực thực thi và tính chủ động của địa phương. Điều đó cho thấy Chính phủ đã nhìn rất rõ một thực tế: Nhiều chủ trương đúng khi đi xuống cấp thực hiện thường bị chậm, bị chia cắt hoặc thiếu sự phối hợp đồng bộ. Nói cách khác, thách thức của nông nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở chỗ cần thêm chính sách mới, mà còn nằm ở chỗ phải thực hiện chính sách tốt hơn. Nếu các địa phương không nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình hành động rõ việc, rõ người, rõ thời hạn và rõ trách nhiệm, rất khó tạo ra chuyển động lớn.
Nút thắt thứ ba là áp lực môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng nặng nề. Nghị quyết dành dung lượng lớn cho các nhiệm vụ về thích ứng biến đổi khí hậu, quản lý chặt chẽ tài nguyên đất, nước, rừng, biển; Phát triển hạ tầng xanh; Phục hồi rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn; Cải thiện tình trạng ô nhiễm tại các đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông và khu vực nông thôn. Điều đó cho thấy nông nghiệp tương lai không thể tách rời môi trường. Phát triển nông nghiệp hiện đại không thể tiếp tục đi theo lối cũ là tăng sản lượng bằng mọi giá, trong khi tài nguyên suy giảm và rủi ro bị đẩy về phía người nông dân.
Để nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, cần quyết liệt ở ba khâu
Muốn Nghị quyết lần này tạo ra chuyển biến rõ rệt, cần đặc biệt tập trung vào ba khâu then chốt. Thứ nhất, phải cụ thể hóa rất nhanh thành chương trình hành động khả thi. Không thể để Nghị quyết dừng ở khẩu hiệu hay chỉ được triển khai bằng các bản kế hoạch mang tính hình thức. Mỗi bộ, ngành, địa phương cần chuyển các mục tiêu lớn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ, dự án, lộ trình và đầu việc cụ thể. Cần có cơ chế giám sát thường xuyên, đánh giá bằng kết quả đầu ra thực chất, thay vì chỉ dừng ở số lượng văn bản hay số cuộc họp.
Thứ hai, phải đặt người nông dân vào vị trí trung tâm đúng nghĩa. Nghị quyết xác định rất rõ nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp. Vì vậy, mọi chính sách chỉ có ý nghĩa khi trả lời được câu hỏi: Người nông dân được gì, thu nhập có tăng không, rủi ro có giảm không, khả năng tiếp cận tín dụng, bảo hiểm, công nghệ, thông tin thị trường và đào tạo nghề có tốt hơn không?
Người nông dân hiện nay không chỉ cần hỗ trợ về giống, vốn hay kỹ thuật canh tác, mà còn cần được trang bị kiến thức thị trường, kỹ năng số, năng lực tham gia hợp tác xã, liên kết chuỗi và mô hình sản xuất mới. Nói cách khác, phải hình thành lớp nông dân chuyên nghiệp, có tri thức, có khả năng tiếp cận công nghệ và thích ứng nhanh với yêu cầu thị trường.
Nghị quyết cũng đã nêu rõ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao chất lượng lao động cho ngành nông nghiệp, đổi mới đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phát triển thị trường lao động khu vực nông thôn và hỗ trợ chuyển đổi việc làm bền vững.
Thành công của Nghị quyết không nằm ở số văn bản được ban hành, mà nằm ở chỗ năng suất có tăng, thu nhập nông dân có khá hơn và nông thôn có thực sự đổi thay hay không? Ảnh: Hồng Thắm.
Thứ ba, phải coi hợp tác xã, doanh nghiệp và liên kết chuỗi là "xương sống" của nền nông nghiệp mới. Nghị quyết nhấn mạnh tiếp tục củng cố và phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã hiện đại gắn với chuỗi giá trị; Ưu tiên hỗ trợ hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, liên kết sản xuất và tiêu thụ với doanh nghiệp; Tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm nông nghiệp nhằm nâng khả năng tiếp cận tín dụng, tài chính và bảo hiểm. Đây là hướng đi đúng.
Trong điều kiện sản xuất nhỏ lẻ còn phổ biến, không thể yêu cầu từng hộ nông dân đơn lẻ tự mình đáp ứng toàn bộ tiêu chuẩn quốc tế, tự đầu tư công nghệ, tự xây dựng thương hiệu và tự kết nối thị trường. Cần có những mắt xích tổ chức đủ mạnh để gắn kết sản xuất với chế biến, logistics, tài chính, bảo hiểm và tiêu thụ.
Cùng với đó, phải đầu tư đồng bộ hơn cho hạ tầng nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết đặt ra yêu cầu phát triển thủy lợi đa mục tiêu, nâng cấp đê điều, phòng chống thiên tai, phát triển cảng cá, khu neo đậu, hạ tầng lâm nghiệp, chuỗi cung ứng lạnh, bảo quản, chế biến, hạ tầng dữ liệu tài nguyên và môi trường, hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường. Nếu không có hạ tầng phù hợp, rất khó nói đến chuyển đổi số, chuyển đổi xanh hay phát triển quy mô lớn.
Nghị quyết 85/NQ-CP là một bước đi đúng thời điểm và rất cần thiết. Nghị quyết mở ra cơ hội lớn để tái cấu trúc toàn diện ngành nông nghiệp, nâng cao vị thế người nông dân, xây dựng nông thôn mới chất lượng cao hơn, đồng thời gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhưng điều xã hội chờ đợi không chỉ là một Nghị quyết đúng, mà là những chuyển biến có thể nhìn thấy trên đồng ruộng, trong hợp tác xã, ở vùng nguyên liệu, trong nhà máy chế biến, trên hạ tầng logistics và trong thu nhập của người nông dân. Cơ hội đã mở. Vấn đề còn lại là có đủ quyết tâm để vượt qua “nút thắt” thực thi hay không?















