Lưu lượng nước về các sông chưa có nhiều biến động
Theo số liệu từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, đầu tháng 3, dòng chảy trên lưu vực sông Hồng có sự phân hóa rõ rệt. Trong khi sông Thao tại Yên Bái và sông Lô tại Tuyên Quang ghi nhận tổng lượng dòng chảy thấp hơn trung bình nhiều năm (TBNN) cùng kỳ lần lượt là 69% và 72%, thì tại sông Đà, nguồn nước đổ về hồ Hòa Bình lại rất khả quan, cao hơn TBNN 40%. Tại Hà Nội, dòng chảy hạ lưu sông Hồng biến đổi chậm và chịu tác động chính từ chế độ thủy triều.
Dự báo từ tháng 3 đến tháng 5/2026, mực nước các sông chính tại Bắc Bộ có xu thế giảm dần và chỉ xuất hiện dao động vào tháng 5. Đáng chú ý, lượng nước về các hồ chứa lớn như Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình được dự báo đạt mức xấp xỉ hoặc cao hơn TBNN từ 5-30%, đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và điện năng. Ngược lại, sông Lục Nam tại trạm Chũ dự báo sẽ có lượng dòng chảy thấp hơn TBNN từ 5-50% trong giai đoạn này.
Lưu lượng nước về các sông ở Bắc Bộ nhìn chung vẫn dồi dào. Ảnh: Trung Nguyên.
Tại Trung Bộ, dự báo nguồn nước trên các sông từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh thời gian tới không có biến động mạnh. Lưu lượng dòng chảy từ tháng 3 đến tháng 5 các sông ở Thanh Hóa phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm (TBNN) từ 5-30%; ở Nghệ An cao hơn TBNN từ 5-17%. Tại Hà Tĩnh, sông Ngàn Sâu dự báo thấp hơn TBNN từ 10-15% và sông Ngàn Phố thấp hơn từ 18-76% so với TBNN.
Trên các sông từ Quảng Trị đến Huế có xu thế hạ thấp dần mực nước. Dự báo lưu lượng dòng chảy trong giai đoạn tháng 3-5/2026 nhìn chung cao hơn TBNN từ 10-20%; đặc biệt sông Tả Trạch (Huế) cao hơn từ 180-220%, trong khi các sông phía Nam Quảng Trị lại thấp hơn TBNN từ 50-60%.
Tại Nam Trung Bộ, các tỉnh từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi và vùng Gia Lai - Lâm Đồng đang bước vào giai đoạn hạ thấp dần mực nước. Trong mùa khô, tình trạng hạn hán, thiếu nước cục bộ có khả năng xảy ra tại các khu vực không có công trình thủy lợi thuộc các tỉnh Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng. Tổng lượng dòng chảy trên sông Đăkbla tại trạm Kon Tum đang thấp hơn TBNN cùng kỳ 6%, trên sông Krông Ana tại trạm Giang Sơn cao hơn TBNN khoảng 45%.
Tại ĐBSCL, lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mekong về đang ở mức khả quan, và dự báo sẽ cao hơn TBNN từ 10-30% trong suốt giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 5/2026. Mực nước tại đây biến đổi chậm theo kỳ triều cường.
Đối với vấn đề xâm nhập mặn, các chuyên gia nhận định tình hình hiện tại vẫn tương đương với mức TBNN. Các đợt xâm nhập mặn cao nhất tập trung trong tháng 3, tháng 4 vào các ngày 19-23/3, 30/3-4/4 và 18-21/4. Người dân các địa phương có diện tích sản xuất nông nghiệp tại vùng cửa sông cần chủ động kế hoạch lấy nước ngọt và phòng chống mặn xâm nhập.
Các hồ thủy điện tích đủ nước
Đến thời điểm hiện tại, diễn biến nguồn nước vẫn thuận lợi cho sản xuất và công tác phát điện. Cập nhật đến ngày 10/3, hầu hết các hồ chứa thủy điện đều đủ nước. Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) cho biết đã phối hợp các đơn vị huy động tiết kiệm thủy điện, tích giữ nước tối đa đến hết tháng 3 để sẵn sàng cho cao điểm mùa khô. Kết thúc kỳ nghỉ tết Nguyên đán, sản lượng điện tích trong các hồ chứa đạt 12,2 tỷ kWh, cao hơn kế hoạch năm.
Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) cho biết: Với các phương án và kịch bản vận hành hệ thống điện, ngành điện cơ bản đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định trong suốt năm 2025. Theo đó, kịch bản cơ sở dự kiến mức tăng trưởng phụ tải khoảng 8,5%; kịch bản điều hành ở mức 11,7% và kịch bản cao, trong điều kiện cao điểm mùa khô, có thể lên tới 14%.
Căn cứ vào nhu cầu thực tế trong quá trình vận hành, Bộ Công Thương sẽ chỉ đạo cho Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO) tính toán cân đối và có điều chỉnh kế hoạch phù hợp hằng tháng, tức là mỗi tháng sẽ cân đối, tính toán điều chỉnh cụ thể đảm bảo sản lượng điện phù hợp với nhu cầu.
Tại buổi làm việc của đoàn công tác Bộ Công Thương với Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang về kiểm tra bảo đảm cung ứng điện mùa khô năm 2026 mới đây, Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp Trịnh Văn Thuận cho biết, năm 2026, được dự báo sẽ có nhiều đợt nắng nóng kéo dài hơn so với năm 2025, đồng thời ảnh hưởng cung ứng điện từ các nguồn điện than và khí LNG. Như vậy, trong năm 2026, việc huy động điện từ các nguồn thuỷ điện là hết sức quan trọng.
Do đó, các nhà máy máy thủy điện cần chuẩn bị cho phương án có thể huy động tối đa công suất phát điện trong những tháng cao điểm năm 2026, tuyệt đối không được để xảy ra tình trạng thiếu hụt nước các hồ thủy điện theo quy trình vận hành hồ chứa.
Trong đó, cần chủ động thường xuyên cập nhật, đánh giá sát tình hình thủy văn thực tế; tăng cường phối hợp chặt chẽ, trao đổi thông tin thường xuyên với chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan để thực hiện việc vận hành hồ chứa linh hoạt, hiệu quả, bảo đảm cân đối hài hòa giữa nhu cầu sử dụng nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và sản xuất điện, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm mùa khô và các đợt nắng nóng.

















