Quan điểm của Hà Nội
Theo đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, một trong những lý do phải xây dựng lại quy hoạch là các tồn tại về hạ tầng kỹ thuật. Đó là tình trạng ô nhiễm môi trường, nước thải, rác thải, ùn tắc giao thông, văn minh, trật tự đô thị chưa đảm bảo và úng ngập nhiều tuyến phố khi mưa lớn.
Nhằm giải quyết triệt để ngập úng, trong đồ án Quy hoạch tổng thể với tầm nhìn 100 năm, thành phố định hướng đầu tư hệ thống công trình công cộng ngầm, bãi đỗ xe ngầm và đặc biệt là giao thông ngầm kết hợp bể ngầm chứa nước quy mô lớn. Tỷ lệ ngầm hóa khu vực nội đô được đề xuất là hơn 40% diện tích đất xây dựng đô thị.
"Đặc biệt, nghiên cứu xây dựng hệ thống bể ngầm khổng lồ chứa nước mưa kết hợp giao thông để giải quyết triệt để ngập úng", đồ án nêu. Bể ngầm khổng lồ dự kiến dung tích khoảng 125 triệu m3, được xây dựng trong giai đoạn 2036-2045.
Khu vực giao cắt giữa đường Phạm Hùng và Dương Đình Nghệ biến thành sông mỗi khi Hà Nội mưa lớn kéo dài. Ảnh: TP.
Ngoài ra, đồ án cũng đề xuất nghiên cứu quy hoạch bổ sung các hồ điều hòa trữ nước, thoát nước, chống úng ngập tại khu vực có cốt nền thấp, thường xuyên ngập úng, kết hợp phát triển trồng rừng, đào hồ lớn tích nước dự trữ.
Thành phố cũng chủ trương xây dựng các trạm bơm công suất lớn, trường hợp khẩn cấp hoặc khu vực trũng thấp thường xuyên ngập úng, có thể sử dụng hệ thống bơm công suất lớn để chủ động bơm nước cho khu vực ngập.
Việc xây dựng hầm ngầm chứa nước mưa được Hà Nội đặt ra từ năm 2018. Công ty Thoát nước Hà Nội đã đề xuất làm hầm ngầm để điều tiết nước mưa tại ba điểm ngập nặng nhiều năm ở phố Đường Thành, ngã tư Phan Bội Châu - Lý Thường Kiệt (Hoàn Kiếm) và phố Nguyễn Khuyến.
Nhưng đến nay chỉ có hầm ngầm tại phố Nguyễn Khuyến được xây dựng và đưa vào sử dụng từ cuối năm 2021. Bể ngầm này nằm tại sân trường THCS Lý Thường Kiệt, kết cấu bê tông cốt thép, dài 34 m, rộng 9 m, sâu 6,6 m, dung tích 2.000 m3. Chiều dày đáy và tường hầm là 50 cm, trần 30 cm. Giữa hầm có cột bê tông cốt thép để chống đỡ trần.
Với đề xuất dung tích bể ngầm khổng lồ khoảng 125 triệu m3 như trong đồ án quy hoạch tổng thể, quy mô bể sẽ lớn gấp 62.500 lần bể ngầm tại phố Nguyễn Khuyến.
Ý tưởng xây dựng bể ngầm khổng lồ chống ngập xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là điều kiện thời tiết Hà Nội. Mùa mưa ở Thủ đô kéo dài từ tháng 5 đến 10, lượng mưa chiếm 80-85% lượng mưa cả năm. Thời kỳ mưa lớn nhất tập trung vào ba tháng 7, 8, 9, trung bình đạt 200-300 mm/tháng.
Thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, tổng lượng mưa năm 2020 trên khu vực dao động 1.444-1.863 mm, cao hơn giá trị trung bình nhiều năm (TBNN) 25-241 mm. Năm 2021, với 15 đợt mưa, tổng lượng mưa dao động 1.953-2.304 mm, cao hơn TBNN 219-695 mm.
Năm 2024 có 7 đợt mưa, tổng lượng dao động 1.945-2.733 mm, cao hơn TBNN 300-1.124mm. Năm 2025 chưa có thống kê tổng lượng mưa nhưng từ tháng 8 đến 10 diễn ra nhiều trận mưa lớn vượt công suất thiết kế của hệ thống thoát nước khiến hàng trăm tuyến phố và nhiều xã ngoại thành ngập úng kéo dài.
Để nhanh chóng khắc phục tình trạng úng ngập, Sở Xây dựng đã tham mưu UBND thành phố ban hành 10 quyết định xây dựng công trình khẩn cấp với tổng mức đầu tư dự kiến gần 5.600 tỷ đồng. Hà Nội cũng chỉ đạo ưu tiên bố trí nguồn lực, rút ngắn thủ tục đầu tư, bảo đảm các hạng mục chính của 10 dự án cơ bản hoàn thành trước mùa mưa bão năm 2026.
Nên đầu tư mạng lưới bể ngầm phân tán
Bình luận về ý tưởng xây dựng bể ngầm khổng lồ 125 triệu m3 của TP. Hà Nội, GS.TS Đào Xuân Học - Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá: “Bể ngầm chứa nước nếu tính đủ thì giải quyết được vấn đề ngập lụt đô thị, nhưng vô cùng tốn kém, trong khi các trục sông tiêu nước như Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét, Nhuệ và kênh Yên Nghĩa phân bố khá đều rồi.
GS. TS Đào Xuân Học - Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, cho rằng: Xây dựng bể ngầm lên tới hàng trăm triệu khối là rất tốn kém, trong khi vẫn còn nhiều giải pháp khác để phòng, chống ngập cho đô thị Thủ đô. Ảnh: Minh Phúc.
Xây dựng các trạm bơm tiêu theo Quy hoạch tiêu nước hệ thống sông Nhuệ đã được Chính phủ phê duyệt ngày 10/07/2009 và HĐND Thành phố phê duyệt năm 2012, cải tạo các trục tiêu trên nhằm cấp đủ lưu lượng cho các trạm bơm, hạ thấp mực nước ở các trục tiêu, xây dựng hồ điều hoà ở các trạm bơm đầu mối là đáp ứng yêu cầu tiêu về vĩ mô - không có ngập úng theo ngày”. GS.TS Đào Xuân Học cũng cho biết, một số vùng nội đô cũ có đường ống nhỏ, xuống cấp không đáp ứng yêu cầu thoát nước gây ngập úng vài giờ thì cần nâng cấp, cải tạo (việc này làm dần) là có thể giải quyết căn cơ bài toán ngập lụt cho Thủ đô.
Đồng tình với quan điểm trên, GS.TS Nguyễn Quốc Dũng - Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Thủy công cho rằng, để xây dựng được bể ngầm dung tích trữ lên tới 125 triệu m3 không hề đơn giản. Ngoài chi phí rất tốn kém, còn kéo theo các vấn đề phức tạp về kỹ thuật thi công. Ông lấy ví dụ, chúng ta làm một đoạn metro ở Hà Nội mà người dân sinh sống ở phía trên khổ sở vì bùn lỏng đùn, huống chi là một siêu hồ chứa hàng trăm triệu khối nằm ở sâu trong lòng đất như vậy.
GS. TS Nguyễn Quốc Dũng - Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, cho rằng: Xây dựng bể ngầm có dung tích trữ lên tới hàng trăm triệu khối nước đòi hỏi kỹ thuật thi công rất phức tạp. Ảnh: Tùng Đinh.
Bên cạnh đó, việc bơm nước từ hồ ngầm lên sau khi ngập lụt cũng kéo theo chi phí không nhỏ. Nhiều quốc gia cũng xây dựng bể ngầm để chống ngập cho khu đô thị, nhưng họ làm bể ngầm phân tán chứ không phải siêu hồ ngầm. Theo đó, mỗi khu đô thị đều có bể ngầm phân tán đặt ở dưới vườn hoa, vỉa hè, đường bê tông. Họ có quy chuẩn xây dựng rất cụ thể để giảm đỉnh lũ và chậm lũ trong một khoảng thời gian.
Chúng tôi cũng đã tính toán trên máy, bể ngầm đạt khoảng 15% diện tích khu đô thị thì giảm được từ 5-7 giờ đỉnh lũ (tức là làm chậm lũ), qua đó giảm áp lực lên hệ thống tiêu của khu vực đó. Để làm được, cần huy động nguồn lực xã hội hóa, chứ ngân sách của thành phố không thể rót tiền để làm tất cả được.
Nhiều quốc gia, trong đó có Úc, đưa ra quy định bắt buộc nhà dân phải có bể ngầm chống ngập (On-site Stormwater Detention Tanks- OSD) đặt tại sân vườn hay các vị trí phù hợp mới được cấp phép xây dựng hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà. Có như vậy, nước từ mái nhà hoặc sân bê tông mới có chỗ trữ nước trong thời điểm mưa ngập.
GS.TS Nguyễn Quốc Dũng đặt câu hỏi: “Nguyên nhân là vì sao?” Và ông lý giải: Do tốc độ bê tông hóa quá nhanh và kênh rạch bị vùi lấp nên đỉnh lũ ngày càng cao. Không lẽ mình cứ chạy đua theo bê tông hóa mà không có biện pháp giảm thiểu? Ngoài việc tận dụng hồ điều hòa, phải làm bể ngầm ở các khu vực có thể thi công như vườn hoa, bãi đỗ xe… để vừa làm bể nước tưới cây, vừa hứng nước mưa chống ngập.
Để làm được điều đó, cần phải có tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể, mỗi ha cần dành diện tích bao nhiêu xây bể ngầm, đặc biệt là những khu đô thị mới để hướng dẫn cụ thể. Thứ hai, phải có thiết kế chi tiết các loại bể khác nhau để thi công đảm bảo chất lượng, hiệu quả.
Viện Thủy công đã làm bể ngầm bằng các khối xếp rỗng, cho phép lấp đất lên trên để hoàn trả mặt bằng canh tác, suất đầu tư rẻ bằng 1/4 bể bê tông cốt thép.
Theo GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, vào khoảng năm 1970 ở Úc nhận thức đã trở nên rõ ràng rằng lũ lụt gia tăng ở hạ lưu (do phát triển đô thị và hệ thống thoát nước hiệu quả hơn) có thể được giảm thiểu bằng cách tạm thời giữ lại một phần nước mưa trong các bể chứa giảm lũ hoặc bể chứa. Các bể chứa giảm lũ có thể được xây dựng để giảm thiểu dòng chảy nước mưa gia tăng từ các phát triển hiện có hoặc để bù đắp cho sự gia tăng dự kiến khi một lưu vực nông thôn được đô thị hóa. Kể từ giữa những năm 1970, hầu hết các khu đất mới được phát hành ở các thành phố Australia đã bao gồm một loạt các bể chứa giảm lũ nhằm duy trì dòng xả đỉnh lũ trước phát triển.
Ngày nay, có hàng trăm bể chứa như vậy ở những khu vực đã trải qua sự phát triển đất đai rộng rãi trong 20 năm qua. Nói chung, các bể này hoạt động tốt trong các trận bão lớn ở Sydney vào cuối những năm 1980. Lũ lụt nghiêm trọng nhất xảy ra ở các khu ngoại ô cũ ở khoảng cách trung bình phía tây Sydney, nơi đã được phát triển mà không có các bể chứa giảm lũ.
Trong hai thập kỷ qua, chính phủ và các hội đồng địa phương đã chi hàng chục triệu đô la để xây dựng các bể chứa giảm lũ lớn trên bất kỳ khu đất công lớn nào có thể tìm thấy trong các khu vực này. Không thể tránh khỏi rằng chi phí của chúng cao hơn và hiệu quả của chúng thấp hơn so với nếu các bể này được xây dựng vào thời điểm các khu vực này lần đầu tiên được đô thị hóa.
Trong các mô phỏng máy tính, các kho lưu trữ OSD được đại diện như các bể chứa giảm lũ nhỏ. Các dòng xả đỉnh lũ đã được tính toán trên toàn bộ lưu vực 110 km² cả trong điều kiện hiện tại, với lưu vực được tái phát triển ở các mức độ khác nhau.
Các mô phỏng so sánh lưu vực không có OSD và với các hệ thống OSD trên tất cả các địa điểm phát triển, giới hạn dòng chảy ở các tỷ lệ khác nhau từ 60 đến 150 lít mỗi giây mỗi hectare (l/s/ha). Các mô phỏng được lặp lại cho một loạt các thời gian và tần suất bão.
So sánh các dòng xả đỉnh lũ sau phát triển với các dòng xả trong điều kiện hiện tại, nghiên cứu đã phát hiện rằng dòng chảy từ các địa điểm phát triển phải được giới hạn ở 80 l/s/ha để đảm bảo không có sự gia tăng trong dòng xả lũ ở bất kỳ đâu trong lưu vực dưới tất cả các tần suất và thời gian bão. Điều này được gọi là dòng xả cho phép tại địa điểm (PSD).
Nó đã được chỉ ra rằng, trong lưu vực này, nếu PSD được đạt được sớm trong sự kiện bão ("xả nhanh cao") và kho lưu trữ nước mưa nằm ngoài dòng chảy (thay vì nằm trong dòng với hố kiểm soát xả), thì cần 470 mét khối mỗi hecta (m³/ha) lưu trữ để kiểm soát dòng chảy trong tất cả các cơn bão lên đến và bao gồm các sự kiện ARI 100 năm. Điều này được gọi là yêu cầu lưu trữ tại địa điểm (SSR).
[Nguồn: Sổ Tay Kiểm soát nước mưa tại chỗ của Quỹ Bảo tồn lưu vực sông Upper Parramatta - Úc]
















