Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa chỉ đạo Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Tài chính rà soát tổng thể phương án tài chính cho dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Trước đó, Bộ Xây dựng vừa tổ chức thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội.
Dự án đường Vành đai 5 vùng Thủ đô được kỳ vọng sẽ mở rộng không gian phát triển đô thị và công nghiệp, đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng và giảm ùn tắc giao thông cho khu vực phía bắc. Các đại biểu đã trao đổi về phương thức, cơ chế đầu tư tuyến chính cao tốc, sự tham gia của các địa phương để xây dựng đường song hành và thực hiện công tác giải phóng mặt bằng.
Dự án đường Vành đai 5 hoàn thành, đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả sẽ tác động tích cực, sâu rộng đến phát triển kinh tế-xã hội của toàn vùng Thủ đô. Dự án không chỉ phục vụ lợi ích từng địa phương mà vì lợi ích tổng thể của quốc gia và của vùng. Sự phát triển của mỗi địa phương phải dựa trên nền tảng phát triển chung của cả vùng.
Tuyến đường dài 321km, kết nối 7 địa phương
Dự án đường Vành đai 5 vùng Thủ đô có tổng chiều dài khoảng 321 km, đi qua địa bàn 7 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ. Dự án có điểm đầu dự án tại Km0 (tương ứng Km 367+100 đường Hồ Chí Minh), thuộc xã Yên Bài, TP Hà Nội; điểm cuối trùng điểm đầu, tạo thành tuyến vành đai khép kín.
Tuyến chính được thiết kế với quy mô 6 làn xe cao tốc, bề rộng 32,25 m; riêng đoạn qua Thái Nguyên quy mô 4 làn xe. Dọc tuyến sẽ có đường song hành tối thiểu đạt tiêu chuẩn đường cấp III, 2 làn xe. Riêng các đoạn qua địa hình đồi núi tại Phú Thọ và Thái Nguyên chỉ đầu tư đường gom để kết nối giao thông địa phương; các đoạn đi qua khu đô thị, khu công nghiệp có thể mở rộng theo quy hoạch của địa phương.
Đường Vành đai 5 sẽ kết nối các hành lang Đông-Tây và các trục hướng tâm của Thủ đô, tạo động lực lan tỏa phát triển KT-XH toàn khu vực. Ảnh: Xuân Vũ.
Ngoài ra, dự án còn xây dựng 45 nút giao liên thông, hệ thống giao thông thông minh, trung tâm quản lý, điều hành giao thông và các trạm dừng nghỉ hiện đại, đồng bộ. Phương án tuyến đã được cả 7/7 tỉnh, thành phố thống nhất và cập nhật vào quy hoạch địa phương.
Theo tính toán sơ bộ, dự án sử dụng khoảng 2.925ha đất, với tổng mức đầu tư trên 235.740 tỷ đồng. Trong đó, chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hơn 64.000 tỷ đồng; chi phí xây dựng hơn 138.300 tỷ đồng; chi phí quản lý dự án, tư vấn và các chi phí khác gần 9.700 tỷ đồng; chi phí dự phòng gần 23.700 tỷ đồng.
Theo Bộ Xây dựng, tuyến đường hành lang kinh tế gắn với Vành đai 5 có vai trò đặc biệt quan trọng đối với vùng Thủ đô nói chung và Hà Nội nói riêng. Tuyến đường sẽ kết nối các hành lang Đông-Tây và các trục hướng tâm của Thủ đô, tạo động lực lan tỏa phát triển kinh tế-xã hội toàn khu vực.
Khu vực có đường Vành đai 5 đi qua hiện là vùng có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và phát triển dịch vụ, logistics nhanh nhất cả nước, với tổng dân số khoảng 31 triệu người (chiếm 27% dân số quốc gia) và đóng góp khoảng 32% GDP cả nước. Tuyến đường cũng sẽ kết nối 6 tuyến cao tốc hướng tâm và kết nối khu vực tới cảng biển Hải Phòng.
Đông đảo nhân dân quan tâm Quy hoạch mạng lưới giao thông Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Ảnh: Xuân Vũ.
Áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù
Bộ Xây dựng cũng đề xuất 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù để triển khai dự án. Trong đó, 7 nhóm đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án trước đó, liên quan đến: Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; thẩm định khả năng cân đối vốn; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; xử lý chất thải rắn xây dựng; chuyển mục đích sử dụng rừng; tuyển chọn phương án kiến trúc và chỉ định thầu; 3 nhóm cơ chế áp dụng riêng cho dự án, bao gồm: Điều chỉnh các quy hoạch liên quan; điều chỉnh phạm vi và hình thức đầu tư; xử lý các vướng mắc liên quan đến dự án BOT.
Hiện nay Chính phủ đề nghị 7 tỉnh, thành phố thống nhất quyết tâm tự bảo đảm nguồn vốn đầu tư đường song hành và giải phóng mặt bằng theo nhiệm vụ được giao; giao Bộ Xây dựng nghiên cứu tiếp thu các ý kiến tại cuộc họp, rà soát kỹ lưỡng tổng mức đầu tư của dự án, bảo đảm cân đối với suất đầu tư bình quân trên 1 km của các tuyến cao tốc khác trong cả nước, có tính đến biến động giá nguyên vật liệu thời gian gần đây; xác định cơ cấu vốn và nhu cầu phù hợp với tiến độ, phân kỳ đầu tư của từng giai đoạn; phân tích rõ ưu, nhược điểm của hai hình thức đầu tư theo phương thức hợp tác công tư (PPP) và đầu tư công để sớm triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 5 vùng Thủ đô.





















