Xuân Bính Ngọ 2026, trò chuyện với Báo Nông nghiệp và Môi trường quanh chủ đề đổi mới, ông Võ Hồng Phúc nói: Đổi mới là một hành trình hết sức gian nan nhưng chính nhờ sức mạnh của dân tộc và dấu ấn của những con người đổi mới như cố Tổng Bí thư Trường Chinh, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt mà đất nước ta mới thoát khỏi bờ vực thẳm, vươn lên sánh vai với bạn bè quốc tế.


“Đêm trước đổi mới”, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư dùng lại cụm từ ấy để hình dung về giai đoạn trước năm 1986.
Thời điểm đó ông Võ Hồng Phúc đang công tác tại Ủy ban Kế hoạch nhà nước và nền kinh tế bước vào thời kỳ thực hiện Kế hoạch 5 năm 1981 – 1985. Sau những cột mốc Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) năm 1978 và Hiệp định đồng minh tương trợ với Liên Xô năm 1979 ai nấy đều tin tưởng thời cơ mới và thời kỳ mới của đất nước dường như đang được mở ra. Vậy mà “căn bệnh” duy ý chí và kế hoạch phát triển dựa trên những chi viện từ phía bên ngoài, không có nội lực bên trong đã dẫn đến hệ lụy khôn lường đối với nền kinh tế và xã hội.
Đỉnh điểm ở cuối kỳ của Kế hoạch, kinh tế nước ta rơi vào tình thế hết sức hiểm nghèo. Thiếu lương thực, thiếu nguyên liệu công nghiệp, thiếu máy móc thiết bị, thiếu vốn đầu tư…, nhất là đời sống sinh hoạt của nhân dân lại càng lao đao, khốn khó. Nhà nước càng cố cân đối lại càng xảy ra lạm phát. Đặc biệt chính sách đổi tiền năm 1985 tưởng như để cứu vãn phần nào nhưng cuối cùng lại dẫn đến kết cục thê thảm. Khủng hoảng tiền tệ và lạm phát tăng phi mã.
“Đêm trước đổi mới” không thể tăm tối hơn được nữa và trong bối cảnh đó, sự xuất hiện một số hoạt động đổi mới về kinh tế, đặc biệt là thực tiễn dẫn đến Khoán 100 và Khoán 10 trong nông nghiệp hay Kế hoạch 2, Kế hoạch 3 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã dần trở thành cơ sở quan trọng để các nhà lãnh đạo hoạch định đường lối đổi mới, tìm ánh sáng cho đất nước.
Sau thời gian khảo sát cẩn trọng, nghiên cứu thực tế và lắng nghe thực tiễn ở các địa phương, Đảng ta quyết định “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Dù văn kiện Đại hội VI đã được chuẩn bị sẵn sàng, tuy nhiên người đứng đầu Đảng Cộng sản bấy giờ là Tổng Bí thư Trường Chinh vẫn quyết tâm phải sửa đổi một số vấn đề, trong đó có báo cáo kinh tế. Quyết định lịch sử đưa đất nước Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, bắt đầu từ mặt trận kinh tế, dần đến chính trị, văn hóa, đối ngoại, hợp tác quốc tế…


40 năm nhìn lại, đã có rất nhiều thành tựu mang tính lịch sử của một cuộc cách mạng lịch sử. Với riêng lĩnh vực kế hoạch đầu tư, ngay trong năm đầu tiên sau Đại hội VI tư duy mới bắt đầu len lỏi vào thực tiễn. Chủ trương nới dần quan hệ kinh tế đối ngoại, đón nhận một số doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư và dần hình thành nên nguồn lực mới, vun đắp thành nền tảng để Đại hội VII năm 1991 có thêm nhiều quyết sách mở đường hội nhập kinh tế thế giới.
Tất nhiên, cột mốc ấy là thành tựu thể hiện khát vọng, nỗ lực của cả một dân tộc, nhưng có những dấu ấn cá nhân rất rõ. Ở một khía cạnh nào đó, đất nước chúng ta đã rất may mắn có được một đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa được rèn luyện trong đấu tranh giải phóng dân tộc vừa trải qua công tác chọn lọc của Đảng, không ít người trong số họ vươn đến tầm lãnh tụ. Có thể kể đến như Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải...
Những con người đổi mới với một tư duy nhất quán, liên tục về việc phải đổi mới nền kinh tế, đổi mới đất nước. Cho dù cách làm có thể khác nhau, có người thận trọng, có người quyết liệt nhưng tư duy ,tư tưởng và tính nhất quán của họ là bắt buộc phải đổi mới.


“Tôi có may mắn rất lớn khi được làm việc với nhiều lãnh đạo xuất sắc. Tư duy và thực tiễn của họ khác xa so với số đông còn lại”, ông Võ Hồng Phúc bồi hồi.
Ví dụ như ông Nguyễn Côn, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (tiền thân của Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Ngay từ những năm 1972 - 1973 ông đã có tư duy hội nhập, chuyển hướng hợp tác kinh tế với phương Tây và Nhà máy giấy Bãi Bằng, Bệnh viện nhi Thụy Điển ra đời. Ví dụ như ông Võ Văn Kiệt, người trước đó đã đó nhiều hoạt động “xé rào” ở miền Nam, được điều động ra làm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã mang những tư tưởng mới mẻ và quan điểm về đổi mới khiến cả cơ quan chúng tôi cũng đổi mới hơn, dám nghĩ, dám làm hơn.
Đặc biệt là tư duy hội nhập và hợp tác quốc tế. Trong những năm 1986 - 1987, làn gió đổi mới đã mở đường hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp Nhật Bản chính thức hoạt động tại Việt Nam lần đầu tiên thông qua nỗ lực kêu gọi, thu hút đầu tư là Nissho Iwai, tập đoàn lớn thứ 7 của đất nước mặt trời mọc thời điểm đó. Những cột mốc “lần đầu tiên” rất đáng nhớ lần lượt đến với chúng ta.
Năm 1989 ông Võ Hồng Phúc được tháp tùng ông Phan Văn Khải sang Nhật công tác. Đây là chuyến đi đầu tiên của một cán bộ cấp Bộ trưởng Việt Nam đến Nhật nhằm tham khảo khả năng hợp tác, phát triển kinh tế với nước bạn. Chính từ chuyến đi này phía bạn đã hỗ trợ và tư vấn cho chúng ta trong nhiều vấn đề quốc tế như vấn đề Campuchia hay bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.
Tiếp sau đó là chuyến công tác cùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi thăm châu Âu sau thời gian dài đất nước bị cấm vận. Những chuyến đi không chỉ mở mang thêm không gian, cơ hội hợp tác phát triển mà còn khẳng định chủ trương đổi mới, hội nhập của Đảng là sáng suốt.


Lẽ tất nhiên hành trình đó rất phức tạp và đầy gian nan. Ông Võ Hồng Phúc nhớ lại, ngay trong Đại hội VI đã có nhiều ý kiến lo ngại về nguy cơ chệch hướng nếu chúng ta đổi mới quá nhiều. Không khí sôi sục, nóng bỏng nhưng cũng có phần nào đó nặng nề bởi sự tồn tại những luồng tư tưởng khác nhau về đổi mới. Sự đấu tranh về đường lối phát triển còn được thể hiện qua lá phiếu tín nhiệm nhân sự. Kể cả khi Nghị quyết Đại hội VII năm 1991 đề cập đến vấn đề hội nhập, mở cửa cửa với phương Tây rõ ràng hơn thì vẫn còn đó rất nhiều luồng tư tưởng cho rằng “nếu hội nhập, mở cửa sâu rộng, hợp tác với tư bản nhiều sẽ dẫn đến nguy cơ xa rời đường lối, xa rời tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin…”.
Ông Phúc nhớ một kỷ niệm rất đặc biệt. Năm ấy, khi đoàn công tác của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi công tác Châu Âu, vì lo ngại ông nói nhiều quá về hội nhập, say sưa quá về đổi mới và hợp tác quốc tế nên Trung ương đã bố trí một “cán bộ đặc biệt” chuyên về công tác lý luận, tư tưởng đi cùng.
Một thời, một giai đoạn người ta rất lo ngại những biểu hiện của nguy cơ chệch hướng. Đã có rất nhiều cuộc thảo luận, hội nghị công khai, mở rộng và dân chủ ở trong Đảng để luận bàn. Yêu cầu cấp thiết đến mức giữa nhiệm kỳ của Đại hội VII Đảng phải tổ chức hội nghị Đại biểu toàn quốc, không bàn về vấn đề nhân sự mà tập trung vào vấn đề đường lối. Rất nhiều tranh luận rất quyết liệt tại Hội nghị đặc biệt này, tất cả những nguy cơ đất nước có thể phải đối mặt đều được đem ra mổ xẻ như: nguy cơ tụt hậu, diễn biến hòa bình, tham nhũng và chệch hướng...
Cuối cùng kết luận Hội nghị nêu rõ, không có biểu hiện, nguy cơ chệch hướng nào cả, con đường đổi mới và hội nhập quốc tế là đúng đắn và sẽ tiếp tục triển khai, chuẩn bị những bước đi vững chắc tiến đến Đại hội VIII của Đảng.
“Nhớ lại những năm tháng ấy là nhớ anh Võ Văn Kiệt, anh Phan Văn Khải với những phẩm cách của người cán bộ lãnh đạo mà bản thân tôi học hỏi được rất nhiều”, ông Phúc bùi ngùi.
Với ông Võ Văn Kiệt là tinh thần quyết tâm đổi mới, dám nghĩ, dám làm. Mọi quy trình có thể sẽ phải nép sang một bên, nhường chỗ cho sự quyết đoán công tâm, vì mục đích chung, lợi ích chung. Như cái cách ông dùng Công ty kinh doanh lương thực của bà Ba Thi để “xé rào” thị trường lúa gạo. Rồi câu chuyện di dân làm thủy điện Hòa Bình, có một câu nói của rất thấm thía, đại ý rằng: So với người miền Nam thì người miền Bắc khổ cực hơn rất nhiều, chúng ta đừng bắt họ phải chịu khổ thêm nữa.
Nhìn lại 40 năm đổi mới, có người từng nói: nếu chúng ta nhận ra sớm hơn, như cách người Trung Quốc “chuyển loạn thành chính” năm 1977, hay như ông Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ 1979, thì có lẽ đất nước ta còn phát triển mạnh mẽ hơn bởi vốn dĩ chúng ta đã có một nửa nước vận hành sẵn trong nền kinh tế thị trường?
Cũng thật khó nói, nhưng rõ ràng đất nước ta hết sức may mắn bởi sau những sai lầm và trả giá, đổi mới là con đường hết sức đúng đắn.




Nhiều người đặt câu hỏi, khi những lợi thế của mô hình tăng trưởng cũ về tài nguyên, lao động qua đi thì mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ thế nào?
“Đây là một vấn đề không hoàn toàn mới, cũng không phải đến bây giờ mới nói”, ông Phúc chia sẻ. Ngày tôi còn đang công tác, đã có người nói đổi mới của chúng ta về kinh tế thì được nhưng về cơ chế quản lý, quản trị chung chưa được. Nói cách khác đổi mới về thể chế và quản trị chung chậm hơn so với đổi mới về kinh tế và điều đó đã làm lỡ mất nhịp, thậm chí là kìm hãm sự đổi mới về kinh tế. Và chắc chắn ở kỷ nguyên mới, những hạn chế, tồn tại của giai đoạn trước sẽ được nhìn nhận và có quyết sách để thay đổi, đảm bảo sự phát triển tốt hơn.
Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục kiên định với mô hình của một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho dù đến nay vẫn còn nhiều ý kiến luận bàn. Có người nói kinh tế thị trường rồi thì làm gì có định hướng, nhưng tôi nghĩ rằng định hướng là đúng. Không thể hiểu theo nghĩa ràng buộc mà vì chúng ta không thể tách biệt hoạt động kinh tế và phân bổ thành tựu phát triển kinh tế với xã hội.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thể hiểu là mô hình gắn liền tổ chức sản xuất theo kinh tế thị trường với việc phân bổ thành quả theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sâu xa hơn là đường lối phát triển kinh tế, sự nghiệp phát triển kinh tế phải gắn liền với chính trị và xã hội. Những thành tựu trong quá trình phát triển kinh tế phải mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Ở đó, cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường 100% và các chính sách xã hội gắn liền với nền kinh tế được thực hiện theo đường lối xã hội chủ nghĩa, chính sách xã hội công bằng, tạo cơ hội cho cả cộng đồng cùng phát triển.


Thực tiễn ở một số quốc gia Bắc Âu đang duy trì được mô hình này và người ta nói rằng chẳng có nơi đâu mà người dân hạnh phúc hơn ở Thụy Điển, Đan Mạch…
Ở đó, họ có một xã hội an bình, an sinh xã hội tốt và Việt Nam chúng ta cũng sẽ hướng đến mục tiêu như vậy. Chúng ta phải có một nền kinh tế hoàn toàn thị trường, hoàn toàn cạnh tranh và mọi cá nhân, doanh nghiệp đều có cơ hội như nhau, không có “sân sau” và những ưu ái riêng.
Bài học ở các “quốc gia hạnh phúc”, họ đưa ra những chuẩn mực rất cao cho từng vị trí, từng con người trong xã hội. Xã hội có chuẩn mực đạo đức chung nhưng cũng có những quy chuẩn riêng cho từng giới, từng lĩnh vực, từng thành phần rất rõ ràng. Song song đó là một cơ chế thị trường minh bạch.
Bước vào một giai đoạn phát triển mới đất nước chúng ta phải biết cách khai thác những lợi thế quốc gia kịp thời. Trong đó, có một lợi thế rất đặc biệt mà dường như lâu nay chúng ta chưa đầu tư, quan tâm đúng mức, đó là trí tuệ người Việt. Một lợi thế mà nhiều chính khách quốc tế đánh giá, đáng ra vị thế của Việt Nam phải số 1 Đông Nam Á.
Phải làm sao để phát huy trí tuệ và tính cố kết cộng đồng của người Việt, phát huy sức mạnh nội sinh và hàn gắn những đứt gãy văn hóa, chữa lành những vết thương văn hóa cộng đồng, xây dựng đất nước, con người Việt Nam thực sự là khối đoàn kết thống nhất sẽ là hành trang vững chắc đưa chúng ta bước vào kỷ nguyên hạnh phúc.



![Khát vọng Lào Cai: [Bài 3] Đường trên núi](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/05/18/khat-vong-lao-cai-bai-3-mo-duong-mo-tuong-lai-130921_82.jpg)