



Sâu thẳm trong hõm núi Tẩn Chư (xã Lùng Phình, tỉnh Lào Cai), vùng đất ngày trươc vốn thuộc xã Tả Van Chư của huyện Bắc Hà cũ có một con đường mòn vắt vẻo như sợi chỉ, vừa vặn một sải tay. Đá lởm chởm sắc lẹm, một bên là vực sâu hun hút, điểm chung của những vùng đất có độ cao hàng nghìn mét so với mực nước biển là sương cứ mịt mù như có bàn tay ai vô hình che ngang tầm mắt. Lạ chưa, cheo leo giữa lưng chừng dốc ấy lại có 3 căn nhà trình tường cổ kính, úp mặt vào vách núi, bên cạnh là mấy nấm mộ thấp. Người sống và kẻ khuất nương tựa vào nhau trong một không gian cổ xưa, hoang hoải và đầy định mệnh.
Sự trầm mặc ấy bỗng nhiên bị xé toạc bởi tiếng động cơ xe máy phành phạch dội vách đá. Vợ chồng Cháng A Kênh - Tẩn Thị Dẻ đi chợ phiên về. Bụi đất lấm lem phủ áo. Lũ trẻ nheo nhóc ùa ra, đưa tay đón đợi từng chiếc kẹo xanh đỏ. Nụ cười của chúng bung nở rạng ngời, trong ngần tựa như vạt nắng hiếm hoi xuyên thủng tầng mây rót xuống hiên nhà.

Câu chuyện của gia đình nhỏ này gắn liền với một người mở đường trên núi, là lát cắt về những mục tiêu mà Nghị quyết số 48-NQ/TU ngày 3/2/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai về phát triển dược liệu chiến lược giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2050. Nói nôm na là phép cộng giữa chính sách và người tiên phong đã thay đổi một vùng đất, thay đổi cộng đồng và từng số phận con người. Tất cả bắt đầu từ những bước chân ngược ngàn của một gã kỹ sư thị thành: Đặng Quang Trung.
Năm 2015, quyết định rời bỏ phố thị để ngược ngàn lên cắm bản được Đặng Quang Trung chốt hạ vỏn vẹn trong bảy ngày. Mua lại một khoảnh đất chừng 200 m2 dưới chân núi Ngải Xố, cách trung tâm Bắc Hà chừng 4 km. Gia tài khởi nghiệp khi ấy chẳng có gì ngoài... một cái chuồng trâu bỏ hoang.
Có lẽ lúc ấy chính Trung cũng chưa từng nghĩ, cái lều ở tạm cải tạo từ chuồng trâu ấy rồi đây sẽ vươn mình thành Hợp tác xã Nông nghiệp Cồ Dề Chải do chính anh làm Giám đốc.
Buộc chặt số phận của hợp tác xã với câu chuyện của dược liệu và của cả cộng đồng, Đặng Quang Trung chia sẻ: Tất cả những mục tiêu, giải pháp của Nghị quyết 48 vừa mang tính chất mở cửa kho báu lại vừa tháo giúp sợi dây đã bó buộc câu chuyện dược liệu bấy lâu nay.
“Quyết sách này không chỉ dừng lại ở những chỉ tiêu kinh tế, mà còn kiến tạo một hệ sinh thái tuần hoàn, việc phát triển cây thuốc được gắn chặt với sứ mệnh giữ rừng và khơi dậy tiềm năng du lịch sinh thái. Đích đến cuối cùng của công cuộc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ấy chính là xốc vác sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số, che chở môi trường và bồi đắp sức khỏe cộng đồng”, Đặng Quang Trung lý luận.


Kỳ thực, nghe Trung kể, những mục tiêu mang tầm vóc thời cuộc ấy đã bén rễ và từng bước có những những đổi thay giúp người dân vùng cao biết làm giàu từ chính mảnh đất, tán rừng và tri thức bản địa của mình như câu chuyện về vợ chồng Cháng A Kênh - Tẩn Thị Dẻ ở Tẩn Chư, xã Lùng Phình.
Thuở trước, Kênh theo bố đặt bẫy chuột cho khỏi phá nương, đào củ trong rừng. Dẻ sinh ra trong gia đình quen đi rừng tìm lan, tìm thuốc. Hai người về một nhà, tiếp tục đi rừng tìm cây thuốc mang xuống chợ Bắc Hà bán. Người Mông gọi chung thứ rễ quý ấy là “săng sựt”, nghĩa là củ sâm nói chung. Có khi bán 1kg chỉ được vài 100-200 nghìn đồng.
Một ngày, Dẻ mang bó “săng sựt” ra chợ huyện. Anh Trung đi ngang, dừng lại, soi xét thật kỹ thứ rễ này, rồi mua hết, trả 1,5 triệu đồng cho 1 kg. Dẻ ngỡ ngàng. Với chị, thứ cây rừng ấy lâu nay chỉ là món hàng nhỏ nhoi trong chiếc gùi quen thuộc. Qua mắt người biết giá trị, nó bỗng hiện ra như một thứ tài sản quý.
Nửa ngày trời cuốc bộ, anh Trung bám gót Dẻ vào tận Tẩn Chư. Anh nhìn đất, nhìn độ dốc, nhìn mảng rừng sau nhà Dẻ, rồi bảo: “Thay vì đào mãi của rừng, mình thử trồng ở sân nhà đi. Anh hỗ trợ chăm sóc, sau này anh sẽ thu mua toàn bộ”.






Một bể xi măng nhỏ đặt trước sân, làm vườn ươm. Tam thất, thất diệp nhất chi hoa cắm rễ, đội đất lên xanh ngắt. Dẻ chụp ảnh, quay những đoạn video mờ đục bằng chiếc điện thoại cũ gửi cho anh Trung. Anh mang thêm giống, thêm lưới đen cản nắng, chỉ cách che, cách vun, cách giữ ẩm. Từ vườn ươm bé xíu, họ mở thành luống, thành vườn. Khi sâm còn chưa trưởng thành, HTX đã đứng ra cam kết nhận bao tiêu.
Làm được một thời gian Dẻ thấy, công việc trồng dược liệu nhẹ nhàng hơn cấy lúa, trồng ngô. Sáng chiều tranh thủ vẫn làm được. Phụ nữ vẫn lo con cái, vẫn dọn dẹp nhà cửa, vẫn đi rừng, vẫn làm thêm việc khác. Nhưng khác với những mùa ngô lép hạt, cây thuốc cho họ một nỗi niềm chờ đợi có hình hài rõ rệt hơn.
Gia đình Kênh và Dẻ có bốn con. Hai đứa lớn học bán trú, cuối tuần mới về. Hai đứa bé ở với bà. Vừa qua, khi có chính sách Nhà nước hỗ trợ 60 triệu đồng xóa nhà dột nát, vợ chồng vay mượn thêm dựng được căn nhà mới hơn 400 triệu đồng. Thu nhập từ vườn dược liệu đã thay đổi cuộc sống của cả gia đình, từ vài chục triệu đồng chật vật mỗi năm, nay thu nhập tăng lên tới hàng trăm triệu.


Cả thôn Tẩn Chư cứ thế nhìn nhau, tự bảo nhau mà thay đổi. Nhà này lát sân, nhà kia dựng mái. Chuồng trâu, chuồng lợn dời ra xa nhà. Rác thu gom gọn. Có vườn dược liệu còn sạch hơn trong nhà. Những đoạn đường đất bùn ngày trước được đổ bê tông từng khúc. Cái sạch, cái đẹp, cái khá giả bắt đầu manh nha, lan rộng khắp vùng đất này.
Ở HTX Nông nghiệp Cồ Dề Chải, chuỗi giá trị dược liệu được siết lại bằng những việc tỉ mỉ. Nguyên liệu thô đi vào nhà máy dược, cơ sở y học cổ truyền. Ngay tại HTX, người ta chế biến kẹo thảo dược, cao xoa bóp, tinh dầu, trà túi lọc, rồi mỹ phẩm, thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Khâu nào cũng cần sạch. Bước nào cũng cần sổ sách. Một cây thuốc muốn thành sản phẩm có tên tuổi phải đi qua nhiều lớp kỷ luật âm thầm.
“Làm dược liệu sạch là hành trình khó. Nếu không ai làm, không ai bảo tồn, phát triển, cây thuốc quý sẽ mất dần”, anh Trung nói.


Giờ đây, nhiều gia đình có thêm nhiều sản phẩm hỗ trợ phát triển kinh tế như bán nông sản, đón khách trải nghiệm, cho thuê trang phục, giới thiệu sản phẩm. Có nhà dựng homestay sàn gỗ, đắp đá tầng trệt theo lối cổ truyền, đón du khách trong mùa hoa dược liệu, trong cả những trải nghiệm thường ngày. Dược liệu vì thế không đứng riêng như một cây trồng. Nó kéo theo du lịch, văn hóa, vệ sinh môi trường, bình đẳng sinh kế, thậm chí cả một lối sống mới.
Nói Đặng Quang Trung là người mở cửa kho báu dược liệu ở Bắc Hà là vì thế.




Khác với Đặng Quang Trung - một người dưới xuôi lên, Sùng A Tủa ở xã Phình Hồ lại là một chàng trai người Mông bản địa. Anh kể chuyện đường giao thông ở Phình Hồ bằng ký ức của một đứa trẻ từng đi học bằng đôi chân trần trên đất dốc.
Sinh ra và lớn lên ở vùng cao Phình Hồ quanh năm mây mù bao phủ, trong ký ức của Sùng A Tủa thì những lối mòn nhỏ như sợi chỉ vắt vẻo ngang lưng trời là sợi dây duy nhất kết nối bản làng với xã hội bên ngoài.
Thuở nhỏ, vì gia đình khó khăn, bố mẹ Tủa rời Chí Lư xuống khu Suối Xuân dựng lán làm nương sản xuất. Từ đó, mỗi chiều chủ nhật, cậu bé người Mông lại đi bộ chừng 10 km ngược lên Phình Hồ học chữ. Đi từ trưa, đến tối mới tới trường. Chiều thứ Sáu, lại men theo đường mòn trở về với bố mẹ.


Những con đường của tuổi thơ A Tủa khi ấy chưa có hình hài của bê tông, càng chưa có tiếng động cơ máy xe. Đó là lối mòn đất đỏ, người dân đi bộ, đi ngựa, gùi mắm muối, sách vở, hàng hóa từ Đồng Lú, Tà Chử lên các bản cao, lên trung tâm xã Phình Hồ cũ.
Mỗi đợt phát sách, phát đồ dùng học tập, học sinh cùng phụ huynh, giáo viên nhà trường phải xuống tận dưới quốc lộ, vác bảng đen bằng gỗ, sau này là bảng xanh, rồi cùng nhau gùi lên trường. Đứa lớp bốn, lớp năm, lớp sáu đã biết chia nhau khiêng đồ học nặng nhọc qua dốc núi. Đem được một tấm bảng lên lớp học cũng thấm mồ hôi như một vụ nương.
A Tủa nhớ mãi những năm 2006-2007, khi trục đường lên Phình Hồ bắt đầu được phá mở. Máy móc còn hiếm, sức người là chính. Đoàn viên, thanh niên, người dân trong xã và các xã bạn cùng lên núi phát cây, cuốc đất, phá đá, mở từng mét đường.
Đến khoảng năm 2008-2009, trục chính lên Phình Hồ mới dần thành hình. Con đường ban đầu chỉ rộng chừng 2-2,5m. Cả vùng khi ấy lác đác vài chiếc Honda Win 100, tiếng máy xe “ruỳnh ruỳnh” vang lên giữa núi nghe đã như một dấu hiệu của đổi đời.
Tuy nhiên, dẫu trục chính đã được nâng cấp, những con đường dẫn vào từng xóm nhỏ, từng nương chè vẫn hẹp ngang, trơn trượt.
Về sau, đường trục chính được mở rộng hơn. Đến năm 2019, tuyến tỉnh lộ 174 kết nối từ QL32 vào Làng Nhì, Bản Mù, trung tâm Phình Hồ được nâng cấp, mặt đường rộng khoảng 5 m, hai bên có rãnh thoát nước. Ô tô đã lên được xã. Nhưng với Phình Hồ, dẫu trục chính giao thông đã được nâng cấp, tuy nhiên điều làm người dân vẫn nhọc nhằn là những đường nhánh vào từng xóm nhỏ, vào khu vực sản xuất, vào vùng chè, vào những khu dân cư nằm sâu sau các triền núi vẫn là bài toán khó giải.
Những con đường bê tông vào những thôn, xóm nhỏ chạy tít tắp lên đỉnh trời, bê tông trải mỏng quẹt, rộng vỏn vẹn chỉ chừng nửa mét, nằm lọt thỏm giữa màu xanh ngắt của đại ngàn. Dốc ở đây dựng đứng đến mức đi bộ còn nghe tiếng khớp gối kêu răng rắc, chân trụ không vững là muốn trùn xuống ngay lập tức. Chẳng thế mà trên bản này, bóng dáng chiếc xe đạp trở thành "hàng hiếm", bởi ở nơi dốc cao chạm mây này, đôi chân trần và sức bền mới là thứ phương tiện đáng tin cậy nhất.

Mùa mưa, đường trơn, chị em phụ nữ muốn đi hái chè vẫn chủ yếu đi bộ. Búp chè Shan tuyết cổ thụ hái từ rừng cao, thứ sản vật được mây núi ủ hương qua nhiều đời, nhiều khi vẫn phải theo lưng người ra khỏi nương. Chè ngon, nhưng đường xa. Hàng quý, nhưng vận chuyển khó. Giá trị vì thế cũng bị sụt giảm bởi chính những lối đi quanh co, chật hẹp.
Từ ký ức ấy, có thể hiểu vì sao Tủa coi Nghị quyết số 46 của Tỉnh ủy Lào Cai và Nghị quyết số 22 của HĐND tỉnh Lào Cai về phát triển giao thông nông thôn là một quyết sách mở đường. Dễ dàng cảm nhận những điều A Tủa nói bằng cả sự háo hức. “Đây chính là cơ hội để những bản làng từng chịu cảnh lầy lội, cô lập có thêm một lối đi mới”, A Tủa lý luận.
Nếu Nghị quyết 46 đặt giao thông vào tầm nhìn chiến lược của tỉnh Lào Cai, coi hạ tầng là mạch máu để kết nối vùng cao với vùng thấp, kết nối nông sản với thị trường, kết nối bản làng với du lịch và dịch vụ thì Nghị quyết 22 cụ thể hóa tinh thần ấy bằng cơ chế: Nhà nước hỗ trợ vật liệu chính đến tận chân công trình, đã trao vào tay đồng bào chiếc chìa khóa để tự mở cánh cửa tương lai, nhân dân được góp công, hiến đất, cùng mở đường.
Vốn là cán bộ mặt trận của xã Phình Hồ cũ, A Tủa hiểu rằng, muốn khơi dậy lòng dân, phải nói bằng ngôn ngữ của sự chân thành. Anh lân la bên bếp lửa, trên nương chè, dùng cả tiếng phổ thông lẫn tiếng Mông để giảng giải cho bà con thấy con đường to đẹp sẽ đưa con trẻ đến trường an toàn, đưa con lợn, búp chè, nông sản ra chợ bán được giá cao.
Tủa đã làm những việc ấy từ trước khi các nghị quyết mới mở ra một cơ chế lớn hơn. Khi trục Chí Lư được bê tông hóa, anh cùng đoàn thanh niên xuống làm với dân. Tủa góp công, góp sức, mua nước, bánh kẹo động viên bà con trong những ngày làm đường.


Bây giờ, nhiều người biết Sùng A Tủa qua kênh TikTok “A Tủa Phình Hồ”, qua những đoạn video về chè Shan tuyết, văn hóa người Mông, phiên chợ trên cao và những câu chuyện bán nông sản cho bà con trên sàn thương mại điện tử. Nhưng phía sau gương mặt trẻ nổi tiếng trên mạng xã hội ấy là một hành trình rất dài của một người muốn mở đường cho quê hương theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. A Tủa cùng bạn bè thành lập Hợp tác xã Hồ San Trà, vận động khoảng 50 hộ tham gia chuỗi liên kết chè Shan tuyết.
Trước kia, thương lái lên mua lẻ tẻ, giá chè tươi nhiều lúc chỉ 10.000-15.000 đồng/kg. HTX hướng dẫn bà con hái đúng tiêu chuẩn, kiểm tra chéo vùng nguyên liệu, giữ chất lượng chè cổ thụ, rồi mạnh dạn thu mua 25.000-30.000 đồng/kg. Đầu vụ chọn một tôm một lá, hai tôm một lá để làm trà cao cấp, hộp quà, set quà; cuối vụ thu thêm lá bánh tẻ để nghiên cứu sản phẩm mới như matcha.
Anh kiên trì vận động bà con thay đổi thói quen sản xuất, từ việc hái chè đúng tiêu chuẩn đến việc giữ gìn vệ sinh bản làng để đón khách du lịch. Anh tin tưởng rằng giao thông thuận tiện chính là đòn bẩy để nhận thức con người thay đổi. Khi con đường mở ra, sinh kế mới được hình thành, người trẻ Phình Hồ sẽ không còn phải rời quê hương đi làm ăn xa mà có thể tự hào lập nghiệp trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn.
Phình Hồ hôm nay vẫn còn nhiều trục đường khó, nhiều xóm bản xa đang chờ được kết nối. Tủa nhắc đến Thác Đề Chơ, Háng Chi Mua, Bản Mù, Làng Nhì, những vùng có cảnh quan đẹp, giàu bản sắc, sản vật quý nhưng đường vào còn vất vả đến mức người dưới xuôi khó có thể đi. Nông sản của bà con đưa ra trung tâm xã còn khó khăn, thì du lịch, hàng hóa, thương hiệu khó lòng bay xa. Bởi thế, anh mong Nhà nước tiếp tục quan tâm mở các tuyến liên thôn, đường vào vùng sản xuất, đường vào điểm du lịch, để Phình Hồ có thể phát triển theo đúng lợi thế xanh, hài hòa và bản sắc.
Vì vậy, Nghị quyết 46 và Nghị quyết 22 đối với Phình Hồ giống như một cuộc tiếp sức đúng lúc. Tỉnh đã mở tầm nhìn giao thông lớn; HĐND tỉnh đã trao cơ chế hỗ trợ cụ thể; phần còn lại là sự đồng thuận của nhân dân, sự xông pha của cán bộ cơ sở, sự bền bỉ của những người trẻ có tiếng nói trong cộng đồng. Tủa tự nhận mình sẽ đi vận động bà con hiến đất, góp công, cùng làm đường. Anh tin mình nói bà con sẽ nghe, vì anh cũng là người con của bản.




Mọi quyết sách đều cần người dẫn lối tiêng phong để đi đến cộng đồng. Nếu Bắc Hà có Trung, Phình Hồ có Tủa thì Lâm Thượng có Xới và Ngọt.
Bữa tối tại Xới Farmstay ở bản Tông Pình Cại (xã Lâm Thượng) dọn ra không mâm cao cỗ đầy, nhưng ăm ắp sự thơm thảo của nếp sống người Tày truyền thống: nem rán vàng ruộm, vịt bầu thả suối, măng mai xào và canh rau ngót. Một cô giáo người Canada, vị khách lưu trú đêm đó, nếm thử từng món rồi giơ ngón tay cái, thốt lên tiếng “wow” rạng rỡ.
Ở một góc nhà sàn, sự giao thoa văn hóa hiện lên tinh tế qua chiếc bảng gỗ nhỏ ghi những câu giao tiếp bằng ba thứ tiếng: “Ối giời ơi/À lôi/Oh my god”; “Ăn cơm thôi/Kin khảu lố/Let’s eat”... Chiếc bảng nhỏ ấy như một nhịp cầu. Nó kể câu chuyện về một cộng đồng Tày không hề đánh mất gốc gác khi đón khách phương xa, mà chỉ khéo léo mở thêm một ô cửa để thế giới bước vào.


Sáng ra, kéo nếp rèm mỏng, Lâm Thượng hiện lên đẹp như một bức họa. Những nếp nhà sàn mái cọ thẫm màu thời gian chạy dọc chân núi, hướng mặt ra cánh đồng lúa xanh. Dòng Khuổi Nọi (suối nhỏ) uốn lượn rồi gặp Khuổi Luông (suối lớn), hợp thành mạch nước thiêng nuôi dưỡng thung lũng này qua bao thế hệ.
Theo lời Hoàng Thị Xới - nữ chủ nhân của farmstay, cái tên “Tông Pình Cại” nghĩa là cánh đồng bằng phẳng có nhiều cây vải. Vì ngày trước Lâm Thượng vốn là “đường cụt”, ít bị xô lệch bởi những xô bồ bên ngoài nên bản làng vẫn vẹn nguyên cảnh quan và bản sắc với 70-80% hộ dân giữ nếp nhà sàn khung gỗ truyền thống.
Khung cảnh bình yên ấy chính là chốn neo đậu để Xới quyết định trở về. Tốt nghiệp chuyên ngành du lịch năm 2014, từng vẫy vùng nơi phố thị với công ty lữ hành riêng, đại dịch Covid-19 ập đến đã đưa cô về lại ngôi nhà sàn tuổi thơ. Giữa những ngày tĩnh lặng, Xới nhận ra “kho báu” lớn nhất chính là sự nguyên sơ của nhịp sống chưa bị bão hòa bởi du lịch đại trà.
Nghĩ là làm, Xới cùng gia đình bắt tay vào mở dịch vụ lưu trú ngay tại chính ngôi nhà sàn tuổi thơ. Nhớ lại những ngày đầu, Xới kể cô chỉ có vỏn vẹn 50 triệu đồng để sửa lại nhà, mua đệm, làm rèm tạo thành các khu ngủ tập thể. Rồi cô nhẫn nại tự vẽ ra hành trình trải nghiệm: Khách đến sẽ ăn gì, chơi gì, mặc gì, mang gì về. Trụ lại hẳn quê hương từ năm 2020, Xới lấy ngắn nuôi dài, cơi nới thêm các bungalow phía sau và dần tô điểm lại cảnh quan.
Đến nay, cơ sở đã có 5 bungalow và 5 phòng khép kín. Với chi phí lưu trú trung bình khoảng 700.000 đồng/người/ngày - một mức giá được tính toán vừa vặn để không phá vỡ không gian văn hóa bản địa bởi lượng khách quá tải. Năm 2025, Xới Farmstay thu về hơn 1 tỷ đồng doanh thu. Lượng khách duy trì ổn định, tháng cao điểm đón gần 200 người, chủ yếu là khách Âu.
Ở Lâm Thượng, văn hóa hấp dẫn bởi nó chính là đời sống thường nhật. Bà con mặc áo chàm đi nương vì mỏng, mát và tiện lợi. Các ông, các bà ra sân đánh quay mỗi chiều như một thói quen giải trí đã ăn sâu vào máu thịt.
Ngay cả hình ảnh những người phụ nữ mặc váy Tày xỏ giày đá bóng cũng là nếp sinh hoạt tự nhiên, từng mang về cho đội Lâm Thượng cả cúp vô địch lẫn danh hiệu hoa khôi tại giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số Quảng Ninh mở rộng.
Văn nghệ thì mỗi bản một đội. Khách có nhu cầu thuê đội văn nghệ 7-8 người với giá từ 1,2-1,5 triệu đồng. Ngoài ra, Xới còn làm một minishow chỉ có 2 người, nam hát then, gảy đàn tính, nữ hát khắp cọi để phục vụ khách với giá 700.000 đồng. Nghệ sĩ vừa giao lưu vừa hát và dạy khách hát. Nếu không có hướng dẫn viên thì bản thân cô sẽ kiêm luôn phiên dịch.
Cô nghĩ làm du lịch là bán câu chuyện nhưng không phải chuyện mình cố viết ra cho khách đọc mà họ tự cảm nhận từ phong cảnh bình yên, từ người dân thân thiện, từ những nếp văn hóa như cưới hỏi, lễ, Tết, văn nghệ, thể dục, thể thao.
Cách Xới Farmstay một dải đường tản bộ chưa kịp mỏi chân là cơ sở của Hoàng Thị Ngọt, nép mình bình yên ở bản Khéo Lẹng. Nếu Xới rẽ ngang về quê hương vì đại dịch Covid-19, thì duyên cớ đưa Ngọt đến với nghề du lịch lại bắt đầu từ một biến cố nghiệt ngã. Trận dịch tả lợn châu Phi năm 2021 cướp đi đàn lợn hơn 50 con, vơ sạch vốn liếng và đẩy đôi vợ chồng trẻ vào cảnh trắng tay.


Giữa cơn bĩ cực, Ngọt bám víu vào chính tài sản lớn nhất của gia đình chồng là ngôi nhà sàn cổ hơn 70 năm tuổi với mái cọ hình nón, hai hàng hiên và hàng cột thứ năm hiếm hoi còn sót lại. Ngôi nhà từng ẩm thấp, bị mối xông và suýt bị dỡ bỏ vào năm 2018 nếu không có sự níu giữ dùng dằng của người con dâu. Không có tiền thuê thợ, hai vợ chồng tự tay vác từng khúc gỗ, viên đá để cải tạo lại ngôi nhà sàn cổ, cái ao trước nhà, trải đá tạo thành lối đi, gạt sau lưng những lời xì xào “con gái biết gì mà làm”.
Ngọt cẩn trọng tháo gỡ từng rào cản từ thế hệ trước. Để chiều lòng mẹ chồng - người luôn lo sợ khách lạ làm “ô uế” nhà, cô sắm những chiếc đệm đơn thay vì đệm đôi, nhẫn nại dặn dò khách từng điều kiêng kỵ để không kinh động đến bàn thờ tổ tiên. Không gian bếp trần trụi ngày nào dần lột xác thành 2 phòng lưu trú tươm tất, điểm xuyết thêm 2 căn bungalow xinh xắn ngoài vườn.
Bước lên nhà Ngọt, lữ khách như lật giở một bảo tàng ký ức sống động. Chiếc trống hơn 80 năm tuổi treo trang trọng nơi góc nhà, thứ âm thanh từng thong thả điểm nhịp mừng xuân, cũng từng dồn dập gõ nhịp báo tang gọi bản nay trở thành một chứng nhân lịch sử. Dưới gầm sàn, chiếc cối xay lúa, cỗ máy khâu “con bướm”, hòm tre đựng áo cô dâu được lau dọn sạch sẽ. Đặc biệt, chiếc khung cửi từng bị bỏ hoang từ thập niên 90 nay được Ngọt kỳ công khôi phục. Cô tìm đến những người già cuối cùng trong bản học cách nhuộm chàm, dệt vải, rồi truyền lại ngọn lửa nghề cho lớp trẻ.
Không chỉ bán chỗ ngủ, Ngọt bán những trải nghiệm đậm đà bản sắc văn hóa. Bằng chiếc điện thoại thông minh, cô tự mày mò quay phim, chụp ảnh, đưa hình ảnh mỏ nước trong vắt, điệu hát Then và nếp sống của người Tày lên mạng xã hội. Những vị khách phương xa tìm đến Khéo Lẹng có khi ở lại cả tháng trời, cùng cấy lúa, nhuộm chàm, nếm thử mâm cơm nếp Lào Mu và măng mai rừng, say sưa nghe Ngọt kể về bốn cái Tết cổ truyền của dân bản.




Sự dấn thân của những người trẻ như Xới và Ngọt đang đặt những viên gạch đầu tiên cho mục tiêu xây dựng Lâm Thượng thành Làng du lịch cộng đồng tiêu chuẩn ASEAN.
Tuy nhiên, khát vọng vươn tầm quốc tế không thể mãi dựa vào sự tự phát. Để không bị bào mòn bởi thời gian, bản làng cần hệ thống hóa các hoạt động bảo tồn văn hóa. Đó là lúc Nghị quyết số 39 của HĐND tỉnh Lào Cai về hỗ trợ các câu lạc bộ văn hóa - nghệ thuật - thể thao nòng cốt chứng minh giá trị sinh tử. Quyết sách này không chỉ gỡ rối cho chính quyền trong bài toán quy hoạch, mà còn kiến tạo một “hạ tầng mềm” vững chãi, biến bản sắc thành sinh kế và giữ gìn cảnh quan sinh thái nguyên sơ.
Tin liên quan
Khát vọng Lào Cai: [Bài 1] Ghi ở xã đầu tiên ra mắt CLB văn hóa - nghệ thuật - thể thao nòng cốt
Ngày 10/4, Mường Lai trở thành xã, phường đầu tiên của tỉnh Lào Cai thành lập CLB văn hóa - nghệ thuật - thể thao nòng cốt và tổ chức ra mắt ngày 20/4.
Khát vọng Lào Cai: [Bài 2] Mở cửa kho báu nghìn tỷ
Nếu ví kho báu dược liệu của Lào Cai như nàng công chúa đang ngủ trong rừng thì Nghị quyết số 48 chính là chàng hoàng tử đến đánh thức nàng công chúa.
Khát vọng Lào Cai: [Bài 3] Đường trên núi
Những con đường trên núi được mở ra không chỉ là cuộc cách mạng về giao thông mà còn hiện thực khát vọng xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc.


