Những năm gần đây, ĐBSCL đang đối diện với những biến động chưa từng có như: Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc và biến động mạnh theo dòng chảy thượng nguồn; nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức; xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ, tiến sâu, kéo dài và khó dự báo.
Trước thách thức này, tại hội thảo “An ninh nguồn nước ĐBSCL trước biến đổi khí hậu” do UBND TP Cần Thơ phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức ngày 22/3, các chuyên gia đã đưa ra nhiều dự báo và giải pháp cho vấn đề này.
PGS.TS Lê Anh Tuấn chia sẻ, để sản xuất 1 tấn lúa, cần tới 4.000-5.000 m3 nước, đồng nghĩa với việc “xuất khẩu nước” thông qua hạt gạo. Ảnh: Kim Anh.
PGS.TS Lê Anh Tuấn - Cố vấn Khoa học của Viện Mekong (Đại học Cần Thơ) cho biết, an ninh nguồn nước tại ĐBSCL hiện đang đối mặt với ít nhất 7 thách thức lớn, gồm 3 yếu tố bên ngoài và 4 vấn đề nội tại.
Trong đó, các vấn đề nội tại đang gây áp lực lớn, có thể kể đến là tình trạng khai thác nước ngầm quá mức phục vụ sản xuất; ô nhiễm nguồn nước do lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hiệu quả sử dụng nước còn rất thấp.
Chuyên gia dẫn chứng số liệu từ Ngân hàng Thế giới, mỗi mét khối nước tại Việt Nam chỉ tạo ra giá trị khoảng 2,37 USD, trong khi mức trung bình toàn cầu là 19,12 USD.
Còn theo thống kê của Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tổng lượng nước khai thác toàn vùng ĐBSCL vào khoảng 32,25 tỷ m3/năm. Thế nhưng có đến 31,54 tỷ m3/năm, tức gần 98% được dùng cho sản xuất nông nghiệp và thủy sản; nước cho sinh hoạt chỉ khoảng 0,57 tỷ m3/năm và cho công nghiệp là 0,13 tỷ m3/năm.
Theo PGS.TS Lê Anh Tuấn, nguyên nhân chính khiến việc sử dụng nước quá lớn chủ yếu phục vụ sản xuất lúa. Ông phân tích, để sản xuất 1 tấn lúa, cần tới 4.000-5.000 m3 nước, đồng nghĩa với việc “xuất khẩu nước” thông qua hạt gạo. Trong khi đó, giá trị kinh tế của mặt hàng này lại thấp, khiến thu nhập nông dân không được cải thiện. Cuối cùng, việc thay đổi mục đích sử dụng đất lại đang tác động tiêu cực đến nguồn nước trong vùng.
Gần 98% tổng lượng nước khai thác toàn vùng ĐBSCL được dùng cho sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Ảnh: Kim Anh.
Do đó, nhiều ý kiến cho rằng ĐBSCL cần sớm điều chỉnh chiến lược sử dụng nước theo hướng bền vững hơn. Một trong những vấn đề được đặt ra là “có nên tiếp tục duy trì sản xuất lúa 3 vụ và hệ thống đê bao khép kín tại các vùng như Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười”. Bởi việc kiểm soát lũ quá mức sẽ khiến khả năng trữ nước tự nhiên suy giảm và làm gia tăng nguy cơ ngập úng tại đô thị.
PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam nhận định, sản xuất lúa gạo đang là sinh kế chính của người dân nơi đây. Việc xuất khẩu “tài nguyên” này đang mang lại giá trị khá thấp, tuy nhiên đây là chuyện bất khả kháng, trong giai đoạn quá độ chuyển đổi mô hình sản xuất hiện nay.
Trên thực tế, các chính sách hiện nay không ưu tiên cho sản xuất lúa gạo mà dần đề cao các đối tượng khác có hiệu quả hơn như thủy sản, trái cây. Dù vậy, việc chuyển đổi đang phụ thuộc nhiều vào thị trường, không phải nơi sản xuất như hiện nay.
Chuyển đổi sản xuất theo hướng thuận tự nhiên, giúp tận dụng tối đa giá trị tài nguyên nước mang lại. Ảnh: Kim Anh.
Ông Vũ Viết Hưng - Phó cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đề xuất, sự thay đổi về hạ tầng và công nghệ phải đi đôi với sự chuyển đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý, từ “sản xuất nông nghiệp thuần túy” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”.
Với cách tiếp cận này, đòi hỏi chính quyền địa phương phải cơ cấu sản xuất theo đặc thù của từng tiểu vùng sinh thái, chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất, cây trồng và vật nuôi cho phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn tài nguyên nước thay vì cố gắng chống lại quy luật tự nhiên.
Liên quan đến chính sách đảm bảo an ninh nguồn nước, ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã xác định, tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, trong đó bảo đảm an ninh nguồn nước cho sinh hoạt là ưu tiên hàng đầu. Việc phân bổ nguồn nước phải gắn với quy hoạch tổng thể, đảm bảo điều hòa, phân phối tài nguyên nước hợp lý giữa các ngành, vùng.
Chuyên gia cho rằng, việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi cần được đặt ra để khai thác hiệu quả tài nguyên nước. Ảnh: Kim Anh.
Chính sách này cũng quy định rõ việc duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, kiểm soát ngưỡng khai thác nước dưới ngầm, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước và kiểm soát hoạt động khai thác.
Đối với nước mặt - nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dân sinh và các ngành kinh tế. Giải pháp trọng tâm là khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, tăng cường trữ nước, giữ ngọt.
Việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi cần được đặt ra. Đối với nước dưới đất, yêu cầu là khai thác hợp lý, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, hạn chế khai thác tràn lan cho sản xuất.


















