| Hotline: 0983.970.780

Chúng ta cần nguồn lực mạnh và tư duy phát triển bền vững kinh tế biển!

Thứ Ba 26/05/2026 , 12:10 (GMT+7)

'Chúng ta có những đột phá về xây dựng chính sách nhưng còn rất thiếu nguồn lực, tư duy phát triển bền vững kinh tế biển' - PGS.TS Vũ Thanh Ca.

Sau gần một thập niên triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nhiều cơ hội mới đã hình thành nhưng cũng xuất hiện không ít thách thức về xung đột không gian sử dụng biển, hạn chế trong cơ chế giao biển và yêu cầu chuyển đổi sang mô hình kinh tế biển xanh.

Loạt bài “Phát triển bền vững kinh tế biển” ghi nhận những chuyển động  tại các địa phương ven biển, góc nhìn từ chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế nhằm nhận diện cơ hội, thách thức cũng như các “điểm nghẽn” thể chế trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.

“Việt Nam có đường bờ biển rất dài và diện tích vùng biển rất lớn, giàu tài nguyên. Chúng ta có những đột phá về xây dựng chính sách phát triển kinh tế biển nhưng vẫn đang tiếp tục khai thác một cách thiếu bền vững. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học biển và phát triển kinh tế biển còn rất nhiều hạn chế. Cái mà chúng ta còn rất thiếu là nguồn lực và tư duy để phát triển bền vững kinh tế biển!”, PGS.TS Vũ Thanh Ca chia sẻ cùng Báo Nông nghiệp Môi trường.

PGS.TS Vũ Thanh Ca trong một hội thảo khoa học về biển Đông tháng 10/2023. Ảnh: NNCC.

PGS.TS Vũ Thanh Ca trong một hội thảo khoa học về biển Đông tháng 10/2023. Ảnh: NNCC.

Giao mặt biển lâu dài tạo động lực cho ngành nuôi trồng thủy sản

Thưa PGS.TS Vũ Thanh Ca, nhiều năm qua, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam tại 28 tỉnh thành có biển (nay là 21 tỉnh có biển) vẫn chủ yếu theo các phương pháp truyền thống, quảng canh; nuôi trồng tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, chưa có quy hoạch bền vững, lâu dài... Việc quy hoạch, sắp xếp vùng biển để giao biển ổn định, có thu phí, thời hạn giao biển lâu dài, ổn định 30 - 50 năm. Giải pháp này có phải là giải pháp bền vững, căn cơ và then chốt để giải phóng tư liệu sản xuất, giống như cơ chế chính sách giao đất nông nghiệp theo Nghị quyết 10 năm 1988 hay không, thưa ông?

PGS.TS Vũ Thanh Ca, giảng viên cao cấp khoa Môi trường (Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội). Ông nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu biển và hải đảo (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam); thành viên nhóm chuyên gia môi trường biển của Liên hợp quốc.

- Do sự suy giảm mạnh của nguồn lợi thủy sản biển, hiện nay trên toàn thế giới sản lượng thủy sản nuôi trồng đã vượt sản lượng thủy sản đánh bắt. Hạn chế đánh bắt và tăng cường nuôi trồng thủy sản là một xu thế tất yếu trên thế giới và trong nước để đảm bảo sinh kế của người dân, nguồn cung thủy sản cũng như phát triển bền vững kinh tế xã hội.

Theo quy định của Luật Thủy sản và Nghị định số 11/2021/NĐ-CP, thời hạn giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản được quy định tối đa là 30 năm. Sau khi hết thời hạn này, có thể gia hạn việc giao khu vực biển nhiều lần, nhưng tổng thời gian được gia hạn giao khu vực biển tối đa không quá 20 năm. Cũng theo các văn bản pháp luật nêu trên, khu vực biển được giao phải phù hợp với quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tỉnh.

Trong nhiều trường hợp, nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, đặc biệt là nuôi biển xa bờ cần vốn đầu tư lớn. Việc giao mặt biển để nuôi trồng thủy sản trong thời gian dài sẽ giúp nhà đầu tư an tâm, tăng sức hấp dẫn đầu tư và do vậy tạo động lực để phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản.

Việt Nam có đường bờ biển rất dài và diện tích vùng biển rất lớn, rất giàu tài nguyên. Ảnh: Tùng Đinh.

Việt Nam có đường bờ biển rất dài và diện tích vùng biển rất lớn, rất giàu tài nguyên. Ảnh: Tùng Đinh.

Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh là địa phương tiên phong thực hiện giao biển, cho thuê mặt nước biển. Tỉnh đã chủ động thay thế hơn 10 triệu quả phao xốp thành phao nhựa HDPE; quy hoạch vùng trồng, giao mặt biển ổn định, lâu dài; thành lập các hợp tác xã nuôi trồng thủy sản… Trong khi đó, các địa phương khác vẫn chưa có nhiều động thái. Hướng đi của Quảng Ninh trong bối cảnh hiện tại có phải là sự đột phá, và các địa phương khác vì sao vẫn chưa có sự quyết tâm, quyết liệt?

- Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản phải phù hợp với quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tỉnh. Hiện nay, quy hoạch không gian biển quốc gia đã được ban hành. Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt theo Quyết định số 80/2023/QĐ-TTg có phần phương hướng phát triển kinh tế biển nêu rõ: “Phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản ven biển và trên biển (nuôi biển) công nghệ cao, hiệu quả và bền vững; khuyến khích nuôi các đối tượng làm dược liệu biển và thực phẩm dinh dưỡng từ sản phẩm biển; ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch,... để tạo giá trị gia tăng của sản phẩm biển, góp phần tiết kiệm tài nguyên biển”.

Quy hoạch này mới được sửa đổi, điều chỉnh theo hướng tổ chức không gian theo các vịnh để tận dụng lợi thế mặt biển, tạo động lực phát triển mới cho các khu vực vùng bờ biển. Quy hoạch cũng định hướng thủy sản là ngành mũi nhọn trong kinh tế biển, chuyển mạnh từ khai thác tự nhiên sang nuôi biển công nghiệp quy mô lớn, chiếm trên 75% sản lượng nuôi trồng.

Như vậy, Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh đã tạo cơ sở pháp lý rất vững chắc để triển khai nuôi trồng thủy sản biển công nghệ cao, hiệu quả, bền vững và việc giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản cần được thực hiện theo quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt.

Vùng nuôi thủy sản trên biển Vân Đồn, Quảng Ninh. Ảnh: Kiên Trung.

Vùng nuôi thủy sản trên biển Vân Đồn, Quảng Ninh. Ảnh: Kiên Trung.

Cần chú ý rằng biển có tính chất rất đặc thù khác với đất. Không gian biển là không gian liên thông. Nhiều loài sinh vật biển có tập tính di cư và có thể di chuyển trong một không gian rất rộng, từ một nơi rất xa tới khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, chất ô nhiễm từ khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản có thể được vận chuyển và gây ảnh hưởng tới các khu vực biển khác. Các sinh vật biển bị thoát ra khỏi khu vực nuôi có thể trở thành loài sinh vật ngoại lai xâm hại. Nuôi trồng thủy sản cũng có thể cần một lượng cá biển rất lớn và do vậy có thể dẫn tới đánh bắt thủy sản quá mức, làm suy thoái nguồn lợi thủy sản.

Nuôi trồng thủy sản tại một khu vực biển nhất định cũng có thể làm thay đổi cảnh quan. Việc nuôi trồng thủy sản tại một khu vực biển cũng có thể tạo ra những mâu thuẫn, xung đột với các hoạt động kinh tế biển khác như giao thông vận tải, du lịch, đánh bắt thủy sản, bảo tồn biển v.v. Những tác động về cảnh quan, môi trường, sinh thái do nuôi trồng thủy sản gây ra như vậy có thể ảnh hưởng xấu tới nhiều ngành kinh tế - xã hội tại khu vực biển được sử dụng để nuôi trồng thủy sản và các khu vực biển xung quanh.

Với lý do nêu trên, việc tính toán, đánh giá các tác động tốt và xấu của việc nuôi trồng thủy sản trên một khu vực biển tới môi trường, sinh thái biển cũng như sinh kế người dân và các hoạt động kinh tế - xã hội tại vùng bờ biển và trên biển cần được thực hiện một cách rất cẩn trọng và xem xét để quy hoạch các khu vực biển có thể được sử dụng để nuôi trồng thủy sản.

Các địa phương có biển chưa đưa được nội dung phát triển kinh tế biển vào quy hoạch tỉnh/thành phố cần phải có những nghiên cứu rất đầy đủ về các tác động tốt và xấu của nuôi trồng thủy sản tới môi trường, sinh thái biển cũng như sinh kế người dân và các hoạt động kinh tế - xã hội tại vùng bờ biển và trên biển, trên cơ sở đó xây dựng các cơ sở pháp lý đầy đủ để phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản.

Chính sách phát triển kinh tế biển có đột phá, nhưng...

Phát triển kinh tế biển là mục tiêu, mong muốn của các quốc gia có biển. Ở Việt Nam, chính sách phát triển kinh tế biển so với các quốc gia khác trên thế giới, ông có đánh giá gì?

Nuôi thủy sản ven bờ. Ảnh: Tùng Đinh.

Nuôi thủy sản ven bờ. Ảnh: Tùng Đinh.

- Trong những năm vừa qua Việt Nam ta đã có những đột phá về xây dựng chính sách phát triển kinh tế biển. Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đưa ra những định hướng rất cụ thể để phát triển bền vững kinh tế biển. Nhiều văn bản pháp luật như Luật biển Việt Nam, Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật thủy sản, Luật quy hoạch và một số luật liên quan khác cùng với các văn bản dưới luật và các quy hoạch như Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh đã tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ để phát triển kinh tế biển. Việt Nam cũng đang thực hiện việc sửa đổi Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để quản lý tốt hơn. Tuy nhiên, cái mà chúng ta còn rất thiếu là nguồn lực và tư duy để phát triển bền vững kinh tế biển. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học biển và phát triển kinh tế biển còn rất nhiều hạn chế.

Việt Nam có đường bờ biển rất dài và diện tích vùng biển rất lớn, rất giàu tài nguyên nhưng chúng ta vẫn đang tiếp tục khai thác vùng biển một cách thiếu bền vững. Hiện tượng xả chất ô nhiễm ra biển, đặc biệt là xả rác thải nhựa và chất ô nhiễm hữu cơ từ nước thải chưa được xử lý vẫn chưa được khắc phục. Hiện tượng đánh bắt trái phép, quá mức thủy sản biển và các các loại động vật biển khác, kể cả chim nước, chim di cư vẫn tiếp tục xảy ra và chưa được giải quyết triệt để.

Nhận thức về bảo tồn biển vẫn còn rất hạn chế nên nhiều địa phương có biển đã rất chậm thành lập các khu bảo tồn biển chưa quyết liệt trong vận hành các khu bảo tồn biển. Việc quản lý tài nguyên biển, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản biển, chưa được chặt chẽ. Một phương thức bảo tồn biển mới là xây dựng và vận hành Các Khu vực có Biện pháp Bảo tồn Hiệu quả khác (OECM) vẫn mới chỉ ở giai đoạn nghiên cứu áp dụng. Bởi vậy, tỷ lệ diện tích biển được bảo vệ, bảo tồn trên toàn diện tích vùng biển Việt Nam còn rất thấp. Tất cả những lý do nêu trên đã làm cho tài nguyên biển bị suy thoái, môi trường biển bị ô nhiễm, ảnh hưởng rất lớn tới phát triển bền vững kinh tế biển.

Theo quy định hiện tại, một dự án cấp phép trên biển cần xin ý kiến của rất nhiều Bộ ngành. Quy định trên gây tình trạng chồng chéo, vướng mắc nhiều thủ tục. Theo ông. có thể giao thẩm quyền, trách nhiệm cho một đơn vị đầu mối để địa phương/tổ chức/nhà đầu tư không phải đi “xin” ý kiến các Bộ ngành, điều mà gây phát sinh những vướng mắc về thời gian, thủ tục, thưa ông?

Nuôi biển theo hình thức lồng bè trên biển. Ảnh: Tùng Đinh.

Nuôi biển theo hình thức lồng bè trên biển. Ảnh: Tùng Đinh.

- Như tôi đã nêu ở trên, nuôi trồng thủy sản tại một khu vực biển có diện tích lớn có thể gây ra những ảnh hưởng tốt và xấu tới môi trường, sinh thái và nhiều ngành kinh tế - xã hội, thậm chí an ninh, quốc phòng tại khu vực biển được sử dụng để nuôi trồng thủy sản và các khu vực biển xung quanh. Do vậy, việc lấy ý kiến các bộ, ngành và các bên liên quan khác là rất cần thiết để đảm bảo dự án nuôi trồng thủy sản có diện tích lớn có thể phát huy tới mức tối đa những tác động tốt và hạn chế tới mức tối thiểu các tác động xấu.

Khu vực biển được giao để phục vụ nuôi trồng thủy sản có thể có thời hạn tới 30 năm và gia hạn tối đa tới 20 năm nữa. Hơn nữa, chủ đầu tư dự án nuôi trồng thủy sản có rất nhiều quyền đối với khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản, kể cả quyền thế chấp và chuyển nhượng. Do vậy, việc xin ý kiến nhiều bộ ngành liên quan khi cấp phép và giao khu vực biển cho một dự án nuôi trồng thủy sản có diện tích lớn là cần thiết.

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh là theo quy định pháp luật thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép và giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản trên biển cho tổ chức, cá nhân Việt Nam trong phạm vi vùng biển tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm đến 06 hải lý thuộc phạm vi quản lý; Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển cho tổ chức, cá nhân Việt Nam trong khu vực biển ngoài 06 hải lý, khu vực biển giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu vực biển nằm đồng thời trong và ngoài 06 hải lý và  Chính phủ quy định việc cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển đối với nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Biển đang là nguồn sống cho một bộ phận không nhỏ ngư dân vươn khơi bám biển. Ảnh: Kiên Trung.

Biển đang là nguồn sống cho một bộ phận không nhỏ ngư dân vươn khơi bám biển. Ảnh: Kiên Trung.

Ngoài ra, đối với khu vực biển không thu tiền sử dụng để nuôi trồng thủy sản thì UBND (trước đây là cấp huyện) giao khu vực biển cho cá nhân Việt Nam có hồ sơ đăng ký khi cá nhân đó phải chuyển đổi từ nghề khai thác ven bờ sang nuôi trồng thủy sản theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc thường trú trên địa bàn mà nguồn sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ nuôi trồng thủy sản được địa phương nơi thường trú xác nhận trong khu vực biển từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm đến 03 hải lý thuộc phạm vi quản lý; UBND cấp tỉnh giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ nuôi trồng thủy sản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trong khu vực biển từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm đến 06 hải lý thuộc phạm vi quản lý. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã có những quy định khá hợp lý về việc phân cấp quản lý cho các địa phương và cấp trung ương.

Tuy vậy, có một thực tế là một số dự án nuôi trồng thủy sản có quy mô không lớn và vốn đầu tư ít, nếu làm hết các thủ tục như quy định pháp luật thì sẽ rất khó khăn. Vì vậy, tôi cho rằng nên sửa các quy định pháp luật theo hướng nếu quy hoạch không gian biển cấp tỉnh đã xin ý kiến thẩm định của các bộ, ngành và đã phân định rõ các khu vực có thể sử dụng để nuôi trồng thủy sản thì cấp có thẩm quyền có thể căn cứ vào quy hoạch tỉnh, quy hoạch không gian biển quốc gia và các văn bản pháp luật cần thiết khác để xem xét, cấp phép và giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản  

Có thể lấy một số địa phương đi đầu như Quảng Ninh làm ví dụ: thực hiện giao biển, cho thuê mặt biển giống như chính sách giao đất, cho thuê đất nông nghiệp ở trên bờ. Khung pháp lý, hệ thống cơ chế, chính sách giao biển như đã thấy vẫn chưa đồng bộ, vừa làm vừa xây dựng, vừa xây dựng vừa đồng bộ. Ý kiến của ông đề hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan tới vấn đề này, thưa ông?

- Tôi cho rằng các địa phương có biển chưa đưa được nội dung định hướng hoặc phương án sử dụng không gian biển ven bờ vào quy hoạch tỉnh/thành phố cần khẩn trương có những giải pháp thích hợp để bổ sung các căn cứ pháp lý thích hợp, tạo đủ căn cứ pháp lý để cấp phép và giao khu vực biển phục vụ nuôi trồng thủy sản và các hoạt động kinh tế - xã hội khác.

Bài học từ các quốc gia có biển

Việt Nam từng trải qua nhiều sự cố liên quan tới môi trường biển, gây ra những hệ lụy lớn về môi trường tự nhiên. Ông có khuyến cáo gì về định hướng, mục tiêu, chiến phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường biển an toàn, bền vững?

 
Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân, TP Đà Nẵng. Ảnh: Kiên Trung.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân, TP Đà Nẵng. Ảnh: Kiên Trung.

- Hiện nay, Việt Nam đang rất nỗ lực trong việc quản lý các nguồn thải công nghiệp ra biển. Tuy nhiên, nguồn thải sinh hoạt, thậm chí nguồn thải sinh hoạt từ các đô thị ven biển, từ tàu thuyền hoạt động trên biển chưa được quản lý tốt. Các quy định về môi trường đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng còn thiếu và chưa rõ ràng nên khó áp dụng.

Để đảm bảo phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản nói riêng và phát triển bền vững kinh tế biển nói chung, chúng ta cần phải nỗ lực khắc phục những yếu kém, tồn tại nêu trên. Đặc biệt, cần chú trọng quản lý những ngành nuôi thủy sản có dùng thức ăn, đảm bảo thức ăn thừa và chất thải khác từ hoạt động nuôi trồng thủy sản không gây tác hại xấu tới môi trường.

Hiện tại, năng lực nuôi biển của các pháp nhân ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, vẫn chỉ manh mún, tự phát, quy mô nhỏ và ven bờ, chưa tiến ra khơi xa. Định hướng của nhiều địa phương, đó là nuôi biển xa bờ, nuôi biển đa giá trị, đa canh. Một số nhà đầu tư nước ngoài tới Việt Nam thuê mặt nước nuôi biển, và phạm vi nuôi biển của họ xa bờ (ngoài 6 hải lý). Với định hướng này, ông có đề xuất, kiến nghị gì?

- Việt Nam hiện nay đứng thứ 4 thế giới về nuôi trồng thủy sản, chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ. Việt Nam hiện nay cũng đã xây dựng được một số mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững như nuôi trồng thủy sản sinh thái kết hợp với khôi phục rừng ngập mặn. Sản phẩm sinh thái có chất lượng tốt, được bán với giá cao; trong khi việc khôi phục rừng ngập mặn sẽ làm giảm nguy cơ dịch bệnh, giảm rủi ro cho người dân và trong tương lai có thể được sử dụng để tăng thêm nguồn thu nhập bằng cách bán tín chỉ carbon. Các mô hình thâm canh tôm công nghệ cao đang được áp dụng cũng làm giảm khu vực đất/biển để nuôi trồng thủy sản, trong khi giảm thiểu ô nhiễm môi trường và rủi ro về sinh kế cho người dân.

'Việt Nam đã có những đột phá về xây dựng chính sách phát triển nhưng còn rất thiếu nguồn lực và tư duy phát triển bền vững kinh tế biển' - PGS.TS Vũ Thanh Ca. Ảnh: K.Trung.

'Việt Nam đã có những đột phá về xây dựng chính sách phát triển nhưng còn rất thiếu nguồn lực và tư duy phát triển bền vững kinh tế biển" - PGS.TS Vũ Thanh Ca. Ảnh: K.Trung.

Hiện tại, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam còn khá yếu về công nghệ và vốn đầu tư. Chủng loại thủy sản nuôi trồng cũng còn khá ít. Mặt khác, các quy định về môi trường sinh thái còn chưa đầy đủ nên ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra do nuôi trồng thủy sản vẫn còn khá nặng nề. Tất cả những vấn đề nêu trên cần được quan tâm đầy đủ để đảm bảo phát triển bền vững ngành thủy sản.

Nhìn sang các quốc gia có biển, trình độ phát triển nuôi biển của họ hơn chúng ta một bậc, như Na Uy, Trung Quốc… Chúng ta có thể học gì từ họ trong chính sách nuôi biển, thưa ông?

- Tôi cho rằng các quốc gia có trình độ nuôi biển tốt hơn ta đều là các quốc gia bảo vệ môi trường biển và bảo tồn đa dạng sinh học biển, nguồn lợi thủy sản biển tốt hơn ta khá nhiều. Do vậy, tôi cho rằng điều ta cần học đầu tiên là tăng cường các chính sách về môi trường, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển. Ngoài ra, thiên tai và ô nhiễm môi trường biển cũng tạo ra những rủi ro rất lớn trong nuôi biển. Vì vậy, cần có những chính sách đầy đủ và khả thi để đảm bảo phòng, tránh rủi ro do thiên tai và ô nhiễm môi trường biển gây ra đối với hoạt động nuôi biển.

Xin cảm ơn PGS.TS Vũ Thanh Ca!

Từ ngày 4-6/6/2026 tại phường Cửa Lò (Nghệ An), Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Chuỗi sự kiện truyền thông hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (05/6), Ngày Đại dương thế giới (08/6), Tháng hành động vì môi trường và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026.

1. Diễn đàn Quốc gia về Môi trường và Khí hậu - Từ chính sách đến hành động

- Thời gian: 8h00 ngày 5/6/2026

- Địa điểm: Vinpearl Cửa Hội, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

- Tham dự trực tuyến: ID: 942 6837 3034. Mật mã: KH0605.

2. Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”

- Thời gian: 14h00 ngày 5/6/2026

- Địa điểm: Vinpearl Cửa Hội, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

- Tham dự trực tuyến: ID: 934 2999 5099. Mật mã: HT0506.

3. Chương trình nghệ thuật “Biển Việt Nam - Hành trình không gian xanh”

- Thời gian: 20h00 ngày 5/6/2026

- Địa điểm: Quảng trường Bình Minh, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

4. Lễ Phát động Quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới, Ngày Đại dương thế giới, Tháng hành động vì môi trường và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026; Phát động phong trào “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh - sạch - đẹp”

- Thời gian: 6h00 ngày 6/6/2026 

- Địa điểm: Quảng trường Bình Minh, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

5. Triển lãm Kinh tế Biển xanh - Nông nghiệp và Môi trường bền vững

- Thời gian: Từ ngày 4-6/6/2026

- Địa điểm: Quảng trường Bình Minh, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

(thực hiện)

Xem thêm
Lai Châu bảo đảm nguồn nước sạch nông thôn

Lai Châu cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quản lý, vận hành công trình cấp nước nông thôn, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, bảo đảm người dân được sử dụng nước sạch.

Bình luận mới nhất

Chúng ta cần nguồn lực mạnh và tư duy phát triển bền vững kinh tế biển!
Biển đảo 1 tháng trước