Điều chỉnh quy trình theo hướng mở
Tại buổi làm việc giữa đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường với UBND thành phố Đà Nẵng vào đầu tháng 11 vừa qua, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và phòng chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Phạm Đức Luận cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giao Cục Quản lý tài nguyên nước phối hợp với các đơn vị, địa phương sửa đổi quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn (quy trình 1865).
Biểu đồ biểu diễn lưu lượng lũ về các hồ thủy điện và lưu lượng xả về hạ du.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, trong đợt lũ đặc biệt lớn vừa qua, các hồ thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có vận hành cắt, giảm lũ theo quy định của quy trình 1865, nhưng không cắt lũ được nhiều. Quy trình này sẽ được điều chỉnh theo hướng mở, không khép kín và không vận hành cứng nhắc như hiện nay, mà vận hành theo thực tế và theo chỉ đạo. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các chủ hồ chứa lẫn trách nhiệm của người ra quyết định.
“Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đề xuất Chính phủ cơ chế về vận hành thủy điện điều tiết lũ nhằm làm giảm lũ lụt và hạn chế tác động, giảm thiểu thiệt hại cho hạ du”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nói.
Từ cắt đỉnh lũ “nửa hồ” đến “1/3 hồ”
Nhiều năm nay, ThS Phạm Phong, Thành viên HĐQT Công ty CP Sông Ba đã dành công sức nghiên cứu giải các bài toán vận hành hồ thủy điện trên cơ sở thực tế vận hành các hồ thủy điện Khe Diên (Đà Nẵng), Krông H’Năng (Đắk Lắk) để khắc phục các bất cập trong quy trình vận hành hồ.
Với quan điểm vận hành các hồ thủy điện cần đặt mục tiêu đảm bảo an toàn cho đồng bào ở hạ du trên hết, ông Phạm Phong đặt ra tiêu chí vận hành hồ thủy điện phải hài hòa lợi ích từ cả 3 phía, gồm: người dân ở hạ du được an toàn, doanh nghiệp được lợi ích, Nhà nước kiểm soát được tình hình mưa lũ. Từ đó, Công ty CP Sông Ba có hướng vận hành điều tiết lũ theo hướng tối ưu về cắt, giảm đỉnh lũ và đảm bảo nước đầy hồ vào cuối đợt lũ để đảm bảo cấp nước cho hạ du và phát điện vào mùa khô.
Người dân Đà Nẵng chịu thiệt hại nặng nề trong đợt mưa lũ vừa qua. Ảnh: Lan Anh.
Theo đó, lưu vực hồ thủy điện được chia thành nhiều lưu vực nhỏ và đặt trạm quan trắc lượng mưa rồi đưa vào bài toán lập trình để tính ra lượng lũ về hồ với độ chính xác cao. Có những trạm đo ở lưu vực cách xa hồ, đập chính, thậm chí, có điểm cách xa hơn 12 giờ chảy về hồ, nên căn cứ vào kết quả quan trắc và tính toán lượng lũ hiện tại đã có thể vận hành xả bớt nước trong hồ theo phương châm chủ động xả từ sớm, từ xa theo thời gian thực, nhằm có dung tích trống phục vụ cắt đỉnh lũ. Trong thời gian đầu, trước khi lũ về hồ, đơn vị thực hiện theo nguyên tắc cắt đỉnh lũ “nửa hồ” với lưu lượng xả khoảng gấp đôi so với lưu lượng lũ về hồ được tính toán ở thời điểm hiện tại. Với cách này, hồ đã chủ động xả từ khi mực nước các sông ở hạ du còn rất thấp để chủ động cắt, giảm đỉnh lũ cho hạ du.
Trong khi đó, việc vận hành cắt, giảm lũ đang được thực hiện ở lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn theo quy trình 1865 là căn cứ theo lưu lượng lũ về hồ hiện tại để xả với lưu lượng thấp hơn khi còn dung tích phòng lũ, rồi xả bằng lưu lượng lũ về hồ khi không còn dung tích phòng lũ. Cách xả này khá thụ động và hiệu quả cắt, giảm lũ thấp.
Năm 2022, Công ty CP Sông Ba đã triển khai báo cáo đề tài “Nghiên cứu lắp đặt trạm đo mưa, mực nước hỗ trợ dự báo vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn mùa lũ” do tỉnh Quảng Nam (cũ) đặt hàng. Với phương pháp cắt đỉnh lũ “nửa hồ” mà Công ty CP Sông Ba đang áp dụng, theo kết quả hiển thị trên phần mềm, có khả năng cắt, giảm 3 đỉnh lũ xảy ra liên tiếp trên sông Thu Bồn tại Nông Sơn trong đợt lũ xảy ra từ ngày 1/11/1999 đến 7/11/1999 với lưu lượng xả về hạ du được tính toán so với lưu lượng lũ thực tế lần lượt là 7.800/9.950 m³/s, 6.150/7.000 m³/s và 6.650/7.500 m³/s.
Với phương pháp cắt lũ “nửa hồ”, Công ty CP Sông Ba đã dành dung tích trống trong hồ khá lớn để cắt đỉnh lũ cho hạ du vì khi lưu lượng đỉnh lũ xả về hạ du càng cao thì không chỉ gây ngập diện rộng hơn, mà sức tàn phá của nước cũng lớn hơn. Sau này, khi càng áp dụng phương pháp này vào nhiều trận lũ và tăng cường hệ thống đo mưa cũng như chia nhỏ lưu vực hồ ra để tính toán, xả lũ cho chính xác hơn, công ty thấy rằng, dùng nửa hồ để cắt đỉnh lũ là chưa tối ưu, mà mực nước hồ cần hạ thấp hơn, chỉ khoảng 1/3 hồ. Đồng nghĩa với lưu lượng lũ được xả về hạ du trong giai đoạn đầu tăng lên, gấp khoảng 3 lần lưu lượng lũ về hồ tính toán ở thời điểm trước khi lũ về tới hồ. Tính ra thì lưu lượng xả ban đầu không lớn (do lưu lượng lũ mới đầu còn nhỏ) vào lúc mực nước ở hạ du đang rất thấp. Qua đó, để dành được dung tích trống lớn hơn ở trong hồ nhằm chủ động cắt đỉnh lũ tốt hơn và xả êm thuận về hạ du.
“Chúng tôi sẽ đăng ký sáng chế đối với giải pháp cắt đỉnh lũ “1/3 hồ” để các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa có cơ sở nghiên cứu áp dụng giải pháp này trong thời gian đến. Với các hồ thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, dung tích hồ nhỏ so với lượng lũ về hồ nên không thể cắt được nhiều trữ lượng lũ, mà chỉ có khả năng cắt, giảm được đỉnh lũ.
Do đó, các hồ cần tập trung cắt, giảm các đỉnh lũ vì khi lưu lượng đỉnh lũ về hạ du càng lớn thì sức tàn phá của lũ và diện ngập càng lớn. Việc cắt, giảm các đỉnh lũ là hoàn toàn có thể thực hiện được dựa trên hệ thống đo mưa được tăng cường trên toàn lưu vực hồ chứa để tính toán chính xác lưu lượng lũ sẽ về hồ nhằm chủ động điều tiết lũ từ sớm, từ xa theo thời gian thực”, ThS Phạm Phong nói.
Cần sớm điều chỉnh quy trình 1865 tăng dung tích phòng lũ các hồ thủy điện lớn nhất có thể vào đầu mùa lũ để tăng năng lực giảm lũ cho hạ du… Ảnh: Lan Anh.
Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng cũng đã đề xuất sửa đổi một số nội dung của quy trình 1865 như: bổ sung kịch bản vận hành khi lưu lượng lũ về các hồ đạt hoặc vượt ngưỡng, mà mực nước ở hạ du còn thấp thì xem xét vận hành hạ thấp mực nước hồ hoặc duy trì mực nước hồ; tăng dung tích phòng lũ các hồ thủy điện lớn nhất có thể vào đầu mùa lũ để tăng năng lực giảm lũ cho hạ du…
Qua thực tiễn công tác vận hành điều tiết lũ của các hồ thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn nói riêng, cả nước nói chung và tình hình mưa, lũ cực đoan, kéo dài trong thời gian qua, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý cũng đề nghị sửa đổi quy trình theo hướng vận hành linh hoạt hơn cho phù hợp với thực tế diễn biến của thiên tai. Đồng thời, tăng cường hệ thống đo đếm, quan trắc để tính toán lưu lượng xả lũ hợp lý; chủ động điều tiết lũ từ sớm, từ xa theo thời gian thực; có cơ chế huy động dung tích siêu cao của hồ chứa (khoảng dung tích trên mực nước dâng bình thường) để phù hợp với diễn biến thiên tai cực đoan, dị thường, kéo dài như những năm gần đây.


















