Cú chạm đầu đời…
Sau 25 năm của cú chạm đầu đời ấy vào trứng rùa biển, cảm xúc của chị Bùi Thị Thu Hiền - Quản lý Chương trình Biển và Tài nguyên vùng bờ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) vẫn vẹn nguyên. Chị học Khoa Sinh học của Trường Đại học Tổng hợp, khi làm luận văn tốt nghiệp cũng chỉ dám chọn đề tài về thủy sản Hồ Tây vì không có điều kiện đi xa. Bởi thế, năm 1998 khi làm nghiên cứu về biển, chị thực sự bị choáng ngợp.
Chị Bùi Thị Thu Hiền thăm một chú rùa con vừa nở. Ảnh: NVCC.
“Công việc đầu tiên của tôi là bảo vệ rạn san hô, thảm cỏ biển nhưng lúc đó lặn thì chưa biết, bơi cũng mới chỉ lóp ngóp ven bờ nên chủ yếu làm việc bàn giấy. Cơ duyên bắt đầu đến từ năm 2001, khi các tổ chức nước ngoài thấy Việt Nam có rùa biển lên đẻ mà lại chưa có một kế hoạch hành động bảo vệ nào. Lúc đó IUCN tổ chức một hội thảo quốc gia về xây dựng kế hoạch bảo tồn rùa biển tại Vũng Tàu, mời các nhà khoa học, nhà quản lý, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước đến” – từ đó, tôi bắt đầu hành trình làm “bà đỡ cho rùa biển”.
Bảo tồn không chỉ là chuyện khoa học mà là chuyện của con người, cách mà con người ứng xử với tự nhiên, với tương lai của chính mình.
Trong ký ức của chị Hiền, vẫn vẹn nguyên khoảnh khắc của một đêm mưa gió bão bùng tại bãi Bảy Cạnh thuộc Vườn Quốc gia Côn Đảo. “Bình thường ở đây vào mùa rùa đẻ mỗi đêm có mấy chục con lên nhưng tối đó đợi mãi đến 2-3 giờ sáng mà chẳng thấy một con nào. Chúng tôi đang thất vọng thì người của Vườn Quốc gia báo có một rùa mẹ lên bãi, đợi cho nó đẻ đã rồi mới đi xem được.
Thường khi mình mong mỏi một thứ gì đó càng khó, càng hiếm thì lại càng nhớ lâu. Lần đầu tiên tôi thấy một con rùa mẹ ngoài thực tế. Nó bò một cách rất nặng nề. Sau khi lên bờ, rùa tìm vị trí để đào tổ, xong thấy có rễ cây hay có đá ở bên dưới lại bỏ đi đào một cái tổ khác, mất vài giờ để hoàn thành.
Khi rùa mẹ đẻ xong, lấp tổ lại và xóa dấu vết để cho các động vật khác không tìm thấy trứng của mình. Khi chạm vào quả trứng rùa nhỏ như quả bóng bàn, tôi ngạc nhiên là nó ọp à ọp ẹp và rất mềm. Và như một nhân duyên kết nối giữa tôi và loài rùa biển, từ đó luôn đồng hành cùng chương trình bảo tồn chúng tại các khu bảo tồn biển”…
Những chú rùa con rất hiền lành và dễ thương. Tuy nhiên, tỷ lệ sống của chúng rất thấp. Chỉ 1/1.000 con sau khi nở có thể lớn lên, trưởng thành, nếu là rùa cái thì có khả năng quay lại chính bãi biển mà mình được sinh ra bằng một cảm nhận từ trường đặc biệt nào đó.
Trái đất đang gặp rắc rối, đại dương có thể cứu
“Trái đất đang gặp rắc rối, đại dương có thể giúp đỡ. Đây là thời điểm chúng ta có thể đầu tư vào đại dương”, chị Bùi Thị Thu Hiền khẳng định. Đại dương chứa 95% sự sống trên hành tinh và cũng hấp thụ hơn 90% lượng nhiệt dư thừa, hơn 30% lượng khí carbon dioxide do con người tạo ra. Đồng thời, hệ sinh thái này cũng tạo ra hơn 50% lượng oxy trên hành tinh, trong đó các hệ sinh thái biển và ven biển có khả năng lưu trữ lượng carbon gấp 3-5 lần so với những khu rừng nhiệt đới ở trên bờ.
Thế nhưng, hiện con người mới chỉ phát hiện được chưa đầy 30% các loài động, thực vật dưới đại dương và đang biến đại dương trở thành một thùng rác khổng lồ. Đại dương thay đổi làm ảnh hưởng đến 99% con người đang sống ở trên đất liền. Khi đại dương hiền hòa thì mưa bão trên đất liền cũng đỡ đi rất nhiều.
"Tôi có mối duyên với rùa biển" - chị Bùi Thị Thu Hiền. Ảnh: NVCC.
Khác với trên bờ, những cái cần bảo tồn ở dưới đại dương thường rất khó thấy. Có nhiều kế hoạch bảo vệ dugong (bò biển, cá cúi), cá mập, cá voi… ở Việt Nam nhưng để tiếp cận được chúng rất khó. Hầu hết chỉ thấy được khi chúng đã chết, sóng đánh dạt xác vào bờ và mang lại những cảm xúc tiêu cực. Trong khi đó rùa biển dễ dàng có thể thấy hay chạm vào, ngoại hình rất đẹp, đem lại những cảm xúc tích cực. Rùa biển còn là một phần của chuỗi thức ăn dưới biển, giúp làm tơi xốp thảm cỏ biển, ăn bớt sứa - một loại động vật chuyên tiêu diệt trứng của các loài hải sản khác.
Thế nên rùa biển trở thành một loài chỉ thị cho các hệ sinh thái mạnh khỏe, dễ dàng truyền thông về chúng để hướng mọi người đến việc cần thiết bảo tồn biển. Diện tích của 12 khu bảo tồn biển tại Việt Nam hiện đang còn rất nhỏ, mới chiếm chưa đầy 0,2% diện tích biển. Trong khi đó định hướng của Chính phủ tới năm 2030 phải làm sao mở rộng các khu bảo tồn biển được 3% diện tích biển. Đây là một mục tiêu tham vọng và cần sự thống nhất từ Trung ương tới địa phương, từ các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng.
Hệ sinh thái san hô, thảm cỏ biển hay rừng ngập mặn chiếm rất nhỏ so với diện tích của đại dương nhưng chúng giống như những “nhà trẻ” của các loài động vật biển.
Một phương án khả dĩ cho vấn đề này là Việt Nam có thể thực hiện được là xây dựng và sớm công nhận “Khu vực có các biện pháp bảo tồn hiệu quả khác” (OECM). Các OECM sẽ góp phần bảo tồn đa dạng sinh học theo nhiều cách thức, chẳng hạn như: bảo tồn các hệ sinh thái đại diện, các sinh cảnh và hành lang tự nhiên quan trọng; hỗ trợ phục hồi các loài bị đe dọa; duy trì chức năng hệ sinh thái và đảm bảo các dịch vụ hệ sinh thái; tăng cường khả năng chống chịu trước các mối đe dọa; góp phần cải thiện công tác quản lý và phục hồi các khu vực có thể sử dụng cho việc bảo tồn nguyên vị đa dạng sinh học.
Nói về công tác chuyên môn về bảo tồn, trong đó có bảo tồn biển thường tốn nhiều chi phí, song theo chị Hiền, đôi khi, chỉ cần con người giảm tác động vào tự nhiên cũng là một cách bảo tồn. Và bảo tồn – hoàn toàn không mâu thuẫn với phát triển mà là động lực cho phát triển.
Minh chứng cho điều này, trong thời gian dịch Covid 19 các tàu đánh bắt thủy sản không được đi biển thì chỉ sau một năm, môi trường phục hồi, ngư dân đi đánh bắt lại rất đạt. Bởi thế hầu hết hoạt động của IUCN tập trung vào các nghiên cứu, thông qua đó đưa ra những khuyến nghị, đồng thời tổ chức truyền thông tới các nhóm đối tượng liên quan như giáo viên, học sinh, ngư dân, tình nguyện viên, cơ quan quản lý nhà nước…
“Cái đích cuối cùng của bảo tồn biển là cố gắng giảm được tác động nhiều nhất có thể đến môi trường tự nhiên của biển, đa dạng sinh học biển. Chúng ta cần thành lập được nhiều nhất các khu bảo tồn, tạo cơ hội cho các loài cùng sinh sống trong một ngôi nhà chung. Khi thành lập được các khu bảo tồn biển sẽ có hiệu ứng tràn, hiểu “nôm na” là thủy sản ở đó tràn ra ngoài tạo điều kiện cho ngư dân đánh bắt, kích cỡ thủy sản to hơn, chất lượng thủy sản tốt hơn.
Ứng xử với thiên nhiên bằng đạo đức
Chị Bùi Thị Thu Hiền kể mình rất thích một bức ảnh có một con cá mập rất to cạnh một con người rất nhỏ, bên dưới ghi chú mỗi năm mấy ngàn trường hợp bị giết. Nhiều người nhìn ảnh đoán rằng mỗi năm cá mập giết mất mấy ngàn người nhưng thực tế mỗi năm có mấy ngàn con cá mập bị giết bởi con người.
Hoạt động bảo tồn cần bắt đầu từ chính con người. Ảnh: NVCC.
Làm bảo tồn về loài, về hệ sinh thái nhưng đối tượng mà IUCN tác động trực tiếp là chính con người. Con người có nhiều hành vi ác nhất với tự nhiên nhưng cũng có nhiều lý do để biện minh. Nào là: Tôi cần phải xây dựng khách sạn trên bãi biển, nhu cầu đó quan trọng hơn, dành bãi biển cho rùa đẻ để làm gì? Nào là tôi phải làm điện gió, thủy điện bởi nhu cầu điện đang rất lớn...
“Hồi đại dịch Covid 19 xảy ra, rất nhiều nhà bảo tồn lên tiếng rằng con người phải đầu tư vào để bảo vệ môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh bởi sau có 2 năm các hoạt động bị ngưng trệ mà toàn cầu mất tới 9.000 tỷ USD. Thế nhưng sau Covid 19 là con người lại quên ngay việc bảo vệ môi trường. Cũng như trước đó, xảy ra dịch cúm gia cầm H5N1 con người cũng rất quan tâm đến môi trường, đến việc buôn bán động vật hoang dã. Nhưng dịch hết là quay lại với chuyện cơm áo gạo tiền và lợi nhuận, quên ngay việc bảo vệ môi trường.
Hóa ra tính xấu của con người là hay quên! Chuyện đó vừa vô ơn, vừa vô tâm, vừa thiếu đạo đức với tự nhiên. Chuyển đổi số có thể diễn ra nhanh chóng nhưng chuyển đổi ý thức của một cá nhân, một khu vực hay của một đất nước thì cần phải thời gian dài và hoạt động truyền thông phải làm không ngưng nghỉ”.
Khi được làm một công việc gì mình thích, tôi chỉ muốn làm những gì tốt nhất cho tự nhiên, cho môi trường, hay ít nhất cho loài rùa biển một cách vô điều kiện.
Chị Bùi Thị Thu Hiền chia sẻ, trước đây trong mắt mọi người rùa biển chỉ giống như một nguồn lợi thủy sản. IUCN phải liên tục truyền thông rằng rùa biển ăn không ngon, thậm chí cả một làng chài tại Indonesia bị ngộ độc vì ăn đồi mồi dứa - một loại rùa biển bởi nó thường ăn một loài bọt biển có độc.
Nhưng nhiều người lớn thường có thói quen nghe tai này lại sang tai kia. Bởi thế, IUCN tập trung vào truyền thông cho trẻ em bằng cách tập huấn cho giáo viên để họ lại dạy cho học sinh hiểu phải bảo tồn rùa biển. Chính học sinh lại tác động ngược lại tới bố mẹ mình là ngư dân hay cán bộ liên quan đến công việc bảo vệ môi trường.
Một số ngư dân đã thay đổi và cảm thấy rất tự hào về việc báo cáo bắt gặp rùa trong quá trình khai thác thủy sản. Bản thân chị thường xuyên nhận được những cuộc gọi điện, tin nhắn vào những khung giờ 2-3 giờ sáng để báo tin bắt được rùa và đã thả ra kèm hình ảnh và clip quay được. Lượng rùa biển bị đánh bắt không chủ ý từ các hoạt động khai thác thủy sản như vậy tương đối phổ biến.
Hiện IUCN đã xây dựng được mạng lưới tình nguyện viên bảo tồn rùa biển với hơn 1.000 thành viên, còn những người quan tâm đến hoạt động này là hơn 30.000 người.
Hành trình ra biển lớn của rùa con. Ảnh: NVCC.
“Nhiều lúc tôi cảm thấy mỏi mệt và hoài nghi chính công việc mình đang làm nhưng khoảnh khắc đó nhanh chóng bị vượt qua. Tôi may mắn vì được làm việc mà mình yêu thích và đã đạt được những kết quả nhất định như tạo được một mạng lưới các tình nguyện viên trẻ tâm huyết. Có sự tham gia của họ, việc bảo tồn rùa biển nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung vẫn còn cơ hội”, chị Hiền tâm sự.
Từ năm 2014, IUCN đã triển khai chương trình tình nguyện viên bảo tồn rùa biển tại nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn, bắt đầu từ Côn Đảo, sau đó mở rộng ra những nơi khác như Vườn Quốc gia Núi Chúa, Khu bảo tồn biển Hòn Cau.
Chương trình nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị và tầm quan trọng của rùa biển; đào tạo đội ngũ tình nguyện viên có hiểu biết và kỹ năng, có thể giúp đỡ cán bộ chuyên môn tại các khu bảo tồn rùa biển. Đồng thời, hỗ trợ bảo vệ sinh cảnh làm tổ và các tổ trứng; san lấp, vệ sinh bãi đẻ; di dời các tổ trứng đến nơi an toàn, thu gom rác tại các bãi biển...; tăng cường năng lực cho các khu bảo tồn rùa biển.
















