Những điểm dân cư bắt đầu thiếu nước
Tại các thôn Lương Sơn, Thanh Sơn, Đắk Thanh, Đắk Sơn, Sơn Hà thuộc xã Đắk Sắk, tỉnh Lâm Đồng, tình trạng thiếu nước sinh hoạt cục bộ từng xảy ra trong những mùa khô trước. Đến đầu tháng 4/2026, nguồn nước trên địa bàn cơ bản vẫn đáp ứng nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, theo ghi nhận tại một số hộ, nước sinh hoạt đã bắt đầu khan hiếm.
Người dân sử dụng nước sinh hoạt tiết kiệm trong mùa khô, khi nguồn nước có dấu hiệu suy giảm. Ảnh: Phạm Hoài.
Theo ông Lò Văn Sinh, Trưởng thôn Lương Sơn, tình trạng thiếu nước sinh hoạt đang xảy ra tại một số hộ có giếng khoan yếu, cạn ở khu vực đồi cao. Nếu thời gian tới tiếp tục nắng nóng, việc thiếu nước có thể xảy ra ở nhiều nơi.
Trước diễn biến trên, UBND xã Đắk Sắk đã xây dựng kế hoạch phòng, chống khô hạn, thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất trong mùa khô 2026. Kế hoạch được phổ biến đến các thôn, bon để người dân biết và phối hợp thực hiện. Cán bộ chuyên môn của xã thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình nguồn nước, kịp thời báo cáo khi xảy ra thiếu nước cục bộ hoặc các tình huống bất thường.
Cùng với đó, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước tiết kiệm, nâng cao ý thức bảo vệ các công trình cấp nước sinh hoạt. Theo lãnh đạo UBND xã Đắk Sắk, năm 2025, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh trên địa bàn đạt 98%. Hiện toàn xã có 4 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tại khu vực Long Sơn, Nam Xuân.
Nỗ lực giữ nguồn cấp qua mùa khô
Theo Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Đắk Nông, đơn vị quản lý, vận hành phần lớn các công trình cấp nước tập trung tại phía Tây tỉnh Lâm Đồng, mùa khô năm nay có phần đỡ gay gắt hơn so với các năm cao điểm hạn hán, thiếu nước. Nguyên nhân là vào đầu tháng 3 đã xuất hiện một số đợt mưa trái mùa.
Công trình cấp nước nông thôn tại phía Tây Lâm Đồng, nơi đang triển khai các giải pháp giữ nguồn cấp trong mùa khô 2026. Ảnh: P.H.
Tuy vậy, những năm gần đây, mực nước ngầm suy giảm do nhiều nguyên nhân. Cùng với đó, nhu cầu tưới trên địa bàn tăng do giá nông sản tăng. Vì vậy, mực nước ngầm tại các công trình nước sạch suy giảm, có công trình đã và sắp cạn kiệt trong thời gian tới.
Đến nay, Công ty đã tiếp nhận, bàn giao 66/112/120 công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn. Trong đó, 66/112 công trình đang hoạt động, 46/112 công trình ngưng hoạt động trước khi bàn giao về Công ty, còn 8/120 công trình chưa bàn giao.Đối với 8 công trình chưa tiếp nhận, có 6 công trình còn nhiều bất cập, khó khăn, vướng mắc. Trong đó 5 công trình đã ngưng hoạt động, 1 công trình đang có vướng mắc liên quan đến đất xây dựng công trình, 2 công trình còn lại đang thực hiện các bước nghiệm thu để đưa vào sử dụng.
Từ khi tiếp nhận công trình, Công ty đã thực hiện mua sắm hóa chất xử lý nước, thử nghiệm các thông số chất lượng nước để kiểm tra, kiểm soát chất lượng nước và có giải pháp xử lý kịp thời. Đơn vị cũng lắp đặt các hệ thống xử lý nước bằng composite, máy bơm định lượng Clo, thay thế vật liệu lọc tại một số công trình cấp nước.
Tại một số công trình cấp nước nằm trên tuyến thi công đường giao thông, đơn vị thi công thường xuyên đào, múc, san gạt đất làm hư hỏng, vỡ đường ống cấp nước. Công ty đã chủ động khắc phục, sửa chữa để kịp thời cấp nước.
Theo Công ty, các công trình từ khi được tiếp nhận đi vào vận hành đem lại hiệu quả cao hơn, cơ bản hoạt động ổn định, liên tục, bảo đảm cấp nước cho người dân, mở rộng phạm vi khách hàng, nâng cao tỷ lệ đấu nối sử dụng dịch vụ cấp nước, giảm tỷ lệ thất thoát nước, nâng chất lượng nguồn nước theo quy định. Số hộ đấu nối tăng từ 2.623 lên 9.965 khách hàng, tăng 7.342 khách hàng so với thời điểm tiếp nhận. Tỷ lệ thất thoát nước tại thời điểm tiếp nhận trong khoảng từ 15,62% đến 88,61%, đã được xử lý giảm; có công trình thất thoát còn 3,12% như công trình cấp nước Đắk Rla, 3,35% như công trình cấp nước Thôn 4 (TĐCC).
Có 25 công trình có nguy cơ thiếu hụt nước ngầm, một số công trình tại các xã Nam Dong, Tuy Đức, Quảng Trực, Đắk Sắk nằm trong tình trạng nguy cơ thiếu nước. Ảnh: P.H.
Tại công trình cấp nước sinh hoạt bon U2, xã Nam Dong, nguồn nước đã hết. Đơn vị vận hành mượn giếng của hộ dân cách khoảng 60m để cấp nước. Tại công trình cấp nước thôn 3 Đắk D’rông, xã Nam Dong và công trình cấp nước Quảng Trực, mỗi công trình có 2 giếng nhưng hiện đã hết nước 1 giếng. Giếng còn lại tại thôn 3 Đắk D’rông được vận hành theo chế độ bơm gián đoạn, bơm 1 giờ, nghỉ 2 giờ. Đối với công trình Quảng Trực, đơn vị mượn thêm 1 giếng của Đội Điện lực Tuy Đức, tuy nhiên lượng nước bổ sung còn ít.
Trước nguy cơ thiếu nước sinh hoạt, đơn vị quản lý công trình triển khai các giải pháp vận hành theo từng khu vực. Đối với các công trình có nguy cơ thiếu nước, đơn vị thực hiện bơm thủ công thay cho bơm tự động, tổ chức bơm theo khung giờ, bơm gián đoạn để kiểm soát nguồn nước. Nhân viên Công ty khảo sát các giếng xung quanh để mượn giếng bơm cấp nước phục vụ người dân; thực hiện hạ thấp chiều sâu đặt máy bơm.
Công ty cũng thực hiện bơm thủ công cấp nước cho khách hàng theo thời gian khách hàng sử dụng nước nhiều để bảo đảm cấp nước. Đối với các công trình đã hết nước, giải pháp trước mắt là mượn giếng để cấp nước.
Tại các công trình nước ngầm có nguy cơ thiếu nước, hết nước, Công ty thực hiện khảo sát nguồn nước mặt gần công trình để thay thế nguồn nước giếng khoan. Trường hợp không có nguồn nước mặt thì thực hiện khoan bổ sung thêm giếng hoặc gia tăng chiều sâu giếng.
Qua đó, nhiều công trình cấp nước được xây dựng từ năm 2003-2004 hiện đã xuống cấp, hư hỏng nhiều hạng mục. Vì vậy, đơn vị quản lý kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét bố trí kinh phí để cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, mở rộng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn.


















