

Trò chuyện với Báo Nông nghiệp và Môi trường về câu chuyện 40 năm đổi mới, nhà sử học Dương Trung Quốc kiến giải: Sự nghiệp đổi mới là một biểu hiện của năng lực đặc biệt của người Việt Nam, mã gen đặc biệt của người Việt Nam, thứ mà không nhiều dân tộc trên thế giới có thể có.

Nhà sử học Dương Trung Quốc phân tích: Dân tộc ta suốt hơn mấy nghìn năm lịch sử, với một địa chính trị hết sức đặc biệt đã hun đúc nên một cốt cách, một bản lĩnh có thể gọi là năng lực rất đặc biệt để tìm cách tồn tại và phát triển. Nói cách khác, cốt cách ấy, bản lĩnh ấy, năng lực ấy là con đường sống, giúp dân tộc Việt Nam có thể vượt qua những thời kỳ gian khó “ngàn cân treo sợi tóc”, vượt qua những tình thế ngặt nghèo mà hiếm có dân tộc nào có thể vượt qua được.
Tự ngàn xưa, với địa chính trị của đất nước nằm bên cạnh một nước lớn, cha ông chúng ta đã luôn chịu sức ép về sự bành trướng cả về vũ trang, chính trị, văn hóa. Tuy nhiên, suốt chiều dài lịch sử hơn 1.000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta, đất nước ta vẫn không hề bị đồng hóa, vẫn giữ nguyên bản sắc để rồi khi giành lại được quyền độc lập tự chủ, xây dựng được nền văn hiến, cha ông chúng ta đã chủ động hội nhập và phát triển bằng chính cốt cách, bản lĩnh và năng lực riêng có của người Việt Nam.
Điển hình ngay sau giai đoạn giành độc lập tự chủ, lần lượt các triều đại của vua Ngô Quyền, vua Đinh, Tiền Lê và vua Lý đã rất chú trọng và tìm cách tiếp cận những giá trị “phi Trung Hoa” và xem đó như là con đường phát triển của dân tộc. Cột mốc quan trọng nhất chính là giai đoạn khai mở triều đại nhà Lý với nhà vua Lý Công Uẩn, với một tư tưởng và tư duy theo ngôn ngữ hiện đại ngày nay là chủ động hội nhập quốc tế, vào thời bấy giờ là nhà Tống bên Trung Hoa.


Tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi và phán đoán rằng: Dường như chính vì đằng sau vương triều của Lý Công Uẩn là các vị đại sư với nền tảng là Phật pháp, một giá trị “phi Trung Hoa” nên Lý Thái Tổ và vương triều Đại Cồ Việt mới có thể có những đột phá về con đường hội nhập song song với xây dựng nền độc lập tự chủ bền vững trên nền tảng văn hiến. Mở cửa đón nhận “áp lực bành trướng” và hội nhập với chính áp lực đó bằng năng lực đặc biệt của dân tộc mình.
Trước tiên là quyết sách dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long. Khác với Ngô Quyền chọn Cổ Loa, Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ chọn đúng nơi mà người Trung Hoa với kiến thức về phong thủy đã nhìn ra địa huyệt của người Việt. Đất ấy là rốn rồng, các bậc thầy về phong thủy đến đây nghiên cứu và “trói con rồng ấy lại”.
Với tư duy và tầm nhìn mở cửa, hội nhập, nhà vua Lý Thái Tổ đã về lại chính Đại La để tháo cũi, sổ lồng cho con rồng ấy bay lên. Cái tên Thăng Long nếu giải thích theo nghĩa này sẽ phù hợp hơn truyền thuyết thuyền vua cập bến Đại La thấy rồng bay lên, biểu hiện của sự hưng thịnh như chúng ta vẫn thường nghe kể. Chọn đúng “địa huyệt” và giải mã nó chính là một biểu hiện của đổi mới và hội nhập của cha ông ta từ ngày xưa.
Thứ hai là chuyện vua Lý Thái Tổ quyết định chọn chữ Hán làm quốc tự. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể rõ rằng trước đó người Việt mình đã có chữ viết riêng hay chưa? Vẫn đang có nhiều giả thuyết về những dấu vết cho rằng đã có, nhưng quả thực chữ Hán vẫn là công cụ được Sỹ Nhiếp dùng để cai trị người dân Giao Châu. Chấp nhận lấy chữ Hán của phương Bắc làm quốc tự và rước Khổng Tử về thờ trong Văn miếu nghĩa là vua Lý Thái Tổ dùng ngôn ngữ và triết học của người Trung Hoa như là công cụ để xây dựng thể chế chính trị và nguồn nhân lực cho đất nước. Một bước chủ động hội nhập, mở cửa đón nhận toàn bộ thiết chế văn hóa của người Trung Hoa nhằm chuẩn bị nền tảng cho công cuộc xây dựng đất nước mang bản lĩnh và bản sắc riêng.


Đó là một quá trình đổi mới, hội nhập cực kỳ khoa học, khôn ngoan và bài bản. Sử dụng chữ Hán phổ cập cho giới tinh hoa, từ đó, bằng tinh thần dân tộc, bằng nhu cầu tự chủ đã thúc đẩy tầng lớp tri thức ấy sáng chế ra chữ Nôm, dùng nền tảng ngôn ngữ người khác để nói tiếng nói của dân tộc mình. Câu chuyện ngôn ngữ ấy chúng ta còn bắt gặp sau này với sự ra đời của chữ quốc ngữ. Rõ ràng tư duy mở cửa, hội nhập, đón nhận và học hỏi những cái hay của thiên hạ, lấy làm nền tảng phát triển riêng, tạo nên bản sắc riêng là một năng lực rất đặc biệt của người Việt.
Xuyên suốt cả chiều dài lịch sử dân tộc, chúng ta đã luôn luôn mở cửa, hội nhập nhưng chưa bao giờ bị đồng hóa, bởi vì cha ông chúng ta đã xây dựng nên thiết chế văn hóa làng xã, gần như bảo tồn nguyên vẹn mọi giá trị cộng đồng mang đậm bản sắc của người Việt.
Tất cả những giá trị bản địa thuần Việt đã được nuôi dưỡng hoàn toàn nguyên vẹn ở trong tế bào làng xã ấy. Những yếu tố du nhập từ bên ngoài qua quá trình đổi mới, hội nhập lại được thuần Việt để phù hợp hơn với phong tục, tập quán và truyền thống của dân tộc Việt Nam, người Việt Nam.
Chẳng đâu xa lạ, ví dụ như bát phở của chúng ta cũng là quá trình mở cửa, hội nhập và dần dần hình thành nét văn hóa mang đậm bản sắc của quốc gia vừa là Đông Á vừa là Đông Nam Á.
Rộng hơn nữa, trong quá trình mở rộng lãnh thổ xuôi về phương Nam giúp người Việt thêm đa dạng và phong phú về bản sắc văn hóa. Thậm chí những hệ lụy từ chiến tranh, đô hộ và xâm lược của người Pháp, người Nhật, người Mỹ… cũng đã trở thành những cơ hội tiếp thu những giá trị văn hóa, khai thác những mặt tích cực dựa trên năng lực hội nhập hết sức mạnh mẽ của người Việt Nam.
“Cá nhân tôi cho rằng, chính năng lực đặc biệt ấy là giá trị rất lớn làm nên những thành tựu cũng rất đặc biệt của 40 năm đổi mới. Nói cách khác, công cuộc đổi mới 40 năm qua không chỉ trong đường lối sáng suốt của Đảng mà còn có sự kế thừa truyền thống, bản lĩnh và trải nghiệm trong cả chiều dài lịch sử của dân tộc”, nhà sử học Dương Trung Quốc phân tích.


Cắt nghĩa thêm về năng lực đặc biệt, ông Dương Trung Quốc lấy thêm ví dụ để minh chứng, năm 1945 khi đất nước vừa giành độc lập dân tộc, gần như tất cả những tư tưởng phát triển đất nước trong thời kỳ mới đã được đặt nền móng và gắn liền với một nhân vật kiệt xuất: Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ tư tưởng cốt lõi về tinh thần đoàn kết, sức mạnh nhân dân hay những điều chúng ta đang cho là mới mẻ ngày nay là kinh tế tư nhân cũng đã được đặt ra từ hơn 80 năm trước. Trong đó có tư tưởng về đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước ta cũng được Người vạch ra rất rõ: Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; sẵn sàng hợp tác với người Mỹ khi nào người Mỹ thấy thích hợp; bất kỳ nước nào (gồm cả nước Pháp) thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam, với mục đích làm lợi cho cả hai bên, thì Việt Nam sẽ rất hoan nghênh; chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia…
Tất cả những quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh dần được xây dựng thành nguyên tắc và chính sách đối ngoại của đất nước, hun đúc nên cốt cách, bản lĩnh ấy, năng lực đổi mới, hội nhập đặc biệt của dân tộc Việt Nam.
Năng lực ấy, gắn liền với câu chuyện 40 năm đổi mới vừa qua đã được thể hiện càng rõ. Một dân tộc nếu nhìn vào lịch sử sẽ luôn thấy chiến tranh liên miên, nhưng đó là công cuộc chiến tranh để giành độc lập và giải phóng dân tộc, để rồi khi có cơ hội hòa bình và phát triển đã phát huy năng lực với một bản lĩnh và bản sắc rất khác.
Giới sử học chúng tôi đã từng dày công nghiên cứu rằng tại sao so với nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á, những quốc gia mà mâu thuẫn từ quá khứ vẫn còn kéo dài và dai dẳng như là căn bệnh nan y thì người Việt Nam chúng ta lại có thể hóa giải được tất cả.
Chúng ta mở cửa, đổi mới, hội nhập và làm bạn với tất cả các nước và hoàn toàn không có yếu tố cực đoan trong quan hệ quốc tế. Tất cả đều vì lợi ích phát triển.


Hài hòa giữa lợi ích và bản sắc dân tộc chính là tư tưởng xuyên suốt của sự nghiệp đổi mới. Bởi vì nếu chỉ mở cửa thị trường mà không vươn ra được với thế giới sẽ không thể nào phát triển. Đó là lý do tại sao trong suốt thời gian kể từ khi Đảng xác lập cột mốc Đổi mới tại Đại hội VI, nhưng phải trải qua nhiều năm sau đến cột mốc bình thường hóa quan hệ với Mỹ mới có thể tạo ra những cú hích lớn đưa nền kinh tế phát triển vượt bậc và tạo ra nhiều thành tựu có ý nghĩa hết sức to lớn. Đó cũng là khi chúng ta mở cửa với thế giới, có thêm nhiều lựa chọn để hội nhập, thích ứng và triển bằng năng lực đặc biệt.
Tất nhiên, nhìn lại hành trình 40 năm ấy có thể nói hết sức gian nan, có vô vàn những khó khăn, phức tạp. Đơn cử như hành trình đất nước gia nhập WTO, bước ngoặt lịch sử mở ra kỷ nguyên hội nhập quốc tế. Đã có muôn vàn áp lực từ các quốc gia, từ tư duy lực cản trong chính hàng ngũ chúng ta và trong rất nhiều người.
Một cuộc cách mạng cần có những người tiên phong, những người dám đánh đổi, chấp nhận hy sinh vì lợi ích chung của Đảng và của đất nước. Cho nên chúng ta mới có Tổng Bí thư Trường Chinh sau Cải cách ruộng đất lại trở thành người đặt nền tảng cho sự nghiệp đổi mới. Nghĩa là chúng ta phải nhìn thấy những giá trị truyền thống của một dân tộc từ thời cha ông, rằng năng lực hội nhập của dân tộc Việt Nam là một giá trị hết sức đặc biệt.
Giá trị đặc biệt của năng lực ấy không chỉ thể hiện rõ trong 40 năm đổi mới vừa qua mà suốt cả chiều dài lịch sử. Giá trị đặc biệt của năng lực tạo ra sự cân bằng không phải quốc gia nào cũng có được, nhất là trong bối cảnh có nhiều biến động như thời đại ngày nay.
Một đường lối phát triển có thể tạm gọi là trung lập nhưng thực tế là sự kết tinh từ truyền thống, bản lĩnh và trải nghiệm lịch sử của dân tộc. Những giá trị ấy cũng là một trong những động lực quan trọng nhất trong sự nghiệp đổi mới và giai đoạn hiện nay cũng đang được phát huy tốt nhất.
Nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là mã gen của dân tộc Việt Nam, thứ mà không nhiều dân tộc có được.







