Chiều 26/3, Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nhằm đánh giá kết quả sau 8 năm triển khai và tháo gỡ các điểm nghẽn trong phát triển ngành điện phục vụ kinh tế biển.
Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Nguyễn Duy Hưng ghi nhận những kết quả EVN đạt được, đặc biệt trong bảo đảm năng lượng cho khu vực ven biển, hải đảo và phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Ảnh: Trường Giang.
Tham dự buổi làm việc có Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Duy Hưng; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cùng đại diện các bộ, ngành liên quan và lãnh đạo EVN.
Hình thành hạ tầng năng lượng ven biển, hải đảo
Theo Tổng Giám đốc EVN Nguyễn Anh Tuấn, ngay sau khi Nghị quyết 36 được ban hành, Tập đoàn đã chủ động xây dựng chương trình hành động, chỉ đạo toàn bộ đơn vị thành viên triển khai đồng bộ, lồng ghép mục tiêu phát triển hạ tầng điện ven biển, hải đảo vào chiến lược phát triển ngành điện.
Trong giai đoạn qua, EVN đã đầu tư hệ thống nguồn điện và lưới điện tại các khu vực ven biển, góp phần hình thành các trung tâm năng lượng lớn như Vĩnh Tân, Duyên Hải, Quảng Trạch. Các công trình này không chỉ bảo đảm cung ứng điện cho hệ thống quốc gia mà còn tạo động lực phát triển các khu kinh tế ven biển, cảng biển và dịch vụ logistics.
Hệ thống lưới điện truyền tải, phân phối tiếp tục được mở rộng, đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng của các ngành kinh tế biển như nuôi trồng thủy sản, du lịch, công nghiệp ven biển.
Đáng chú ý, EVN xác định phát triển năng lượng tái tạo ven biển và ngoài khơi là hướng đi chiến lược. Theo Quy hoạch điện VIII, tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam ước tính khoảng 600.000 MW. EVN đang triển khai khảo sát, đo gió cho các dự án tại khu vực Bắc Bộ với tổng công suất dự kiến khoảng 1.200 MW, góp phần bổ sung nguồn điện cho khu vực có nhu cầu tăng trưởng cao.
Đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống đạt khoảng 88.700 MW, trong đó EVN và các đơn vị thành viên chiếm trên 37%. Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống năm 2025 ước đạt 322,8 tỷ kWh, trong đó EVN giữ vai trò nòng cốt, đóng góp khoảng 42%.
Cùng với đó, công tác cấp điện cho vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo được chú trọng. Đến nay, 100% số xã trên cả nước đã có điện; tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99,85%. Riêng khu vực biển, đảo, EVN đã cấp điện cho hầu hết các đặc khu, xã đảo, phục vụ hơn 160.000 khách hàng.
Theo EVN, kể từ khi Nghị quyết 36 được triển khai, hạ tầng điện lực do Tập đoàn đầu tư, vận hành đã trở thành một trong những yếu tố thiết yếu, hỗ trợ trực tiếp nhiều ngành kinh tế trọng điểm như du lịch, dịch vụ biển, hàng hải, dầu khí, công nghiệp ven biển và nuôi trồng thủy sản, đồng thời góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển…
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp đề nghị EVN tăng cường phối hợp chặt chẽ với Bộ NN-MT trong các lĩnh vực quản lý liên quan như tài nguyên nước, khí tượng thủy văn bảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển. Ảnh: Trường Giang.
Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy năng lượng biển
Bên cạnh kết quả đạt được, EVN cũng chỉ ra nhiều khó khăn trong phát triển điện phục vụ kinh tế biển, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, thủ tục đầu tư phức tạp; quy hoạch giữa các ngành còn chồng chéo, phát sinh xung đột trong sử dụng không gian biển.
Dữ liệu điều tra cơ bản về biển còn hạn chế, trong khi các dự án năng lượng ngoài khơi đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi dài. Hạ tầng lưới điện truyền tải tại một số khu vực ven biển chưa đồng bộ, tiềm ẩn nguy cơ trở thành điểm nghẽn.
Để tháo gỡ, EVN kiến nghị hoàn thiện thể chế phát triển năng lượng biển theo hướng đồng bộ, minh bạch; xây dựng cơ chế đặc thù cho điện gió ngoài khơi; bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch không gian biển và quy hoạch phát triển điện lực. Đồng thời, cần phát triển các cơ chế tài chính xanh, mở rộng khả năng tiếp cận vốn, ưu tiên đầu tư lưới điện truyền tải và có chính sách riêng cho cấp điện hải đảo.
Phát biểu tại buổi làm việc, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, sau khi tổng kết Nghị quyết 36, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo hướng hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp, thống nhất. Một trong những nội dung trọng tâm sửa đổi là giao về một đầu mối thực hiện các thủ tục liên quan đến giao khu vực biển, đấu giá, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, qua đó khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo hiện nay, tạo thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp triển khai dự án.
Tổng Giám đốc EVN Nguyễn Anh Tuấn cho biết, từ khi Nghị quyết 36 được triển khai, hạ tầng điện lực do Tập đoàn đầu tư, vận hành đã trở thành một trong những yếu tố thiết yếu, hỗ trợ trực tiếp nhiều ngành kinh tế trọng điểm. Ảnh: Trường Giang.
Thứ trưởng cũng đề nghị EVN tăng cường phối hợp chặt chẽ với Bộ trong các lĩnh vực quản lý liên quan như tài nguyên nước, khí tượng thủy văn; đồng thời chia sẻ dữ liệu, thông tin phục vụ công tác dự báo, quy hoạch và quản lý nhà nước, bảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển.
Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Nguyễn Duy Hưng ghi nhận những kết quả EVN đạt được, đặc biệt trong bảo đảm năng lượng cho khu vực ven biển, hải đảo và phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Đồng thời đề nghị Tập đoàn tiếp tục hoàn thiện báo cáo, đề xuất cụ thể các cơ chế, chính sách để Ban Chỉ đạo tổng hợp, trình Bộ Chính trị xem xét trong quá trình tổng kết Nghị quyết.
















